Book Sheep [Hoàn] Người con gái Tuy Hoà - Trình Quang Phú

Thảo luận trong 'Văn học phương Đông' bắt đầu bởi Pansy Hy, 7/1/18.

Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.
  1. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    Người con gái Tuy Hoà

    (Truyện và kí)

    Tác giả: Trình Quang Phú

    Nhà xuất bản: NXB Thanh Niên

    Số trang: 230 trang

    Giá bìa: 50.000đ

    Typer: Pansy Hy

    Sách thuộc dự án sách hiếm của Cừu Mọt Sách.
    Ebook và bản type thuộc về diễn đàn. Vui lòng không re-up dưới mọi thức.


    LỜI GIỚI THIỆU

    Tuy An, vùng đất của Phú Yên có gành Đá Đĩa, có đầm Ô Loan là di tích thắng cảnh quốc gia, là nơi có bộ đàn đá, kèn đá có niên đại 2.500 năm. Đây cũng là mảnh đất của nhiều văn nghệ sĩ có tên tuổi như nhà văn Võ Hồng, nhạc sĩ Nhật Lai, các nhà thơ Trúc Chi, Khánh Chi, Vũ Trung Nguyên, Bằng Tín, Thương Tín,… Nhà văn Trình Quang Phú cũng sinh ra trên vùng đất này. Ông vừa là nhà hoạt động chính trị, xã hội, là nhà khoa học, nhà doanh nghiệp. Ông viết văn từ những năm đầu thập niên sáu mươi và đã có nhiều tác phẩm in ở nhiều nhà xuất bản. Đặc biệt, nhà văn đã có 2 tác phẩm viết về đề tài Bác Hồ được in và tái bản 16 lần ở Nhà xuất bản Thanh niên đó là: “Đường Bác Hồ đi cứu nước” và “Từ Làng Sen đến bến Nhà Rồng”.

    Là một nhà văn đã có hơn 50 năm gắn bó với chặng đường phát triển của Nhà xuất bản Thanh niên, ngay từ tác phẩm đầu tiên đến những tác phẩm sắp tới, Nhà xuất bản Thanh niên luôn là người đỡ đầu cho những đứa con tinh thần của ông.

    Trong lần tái bản tập truyện và k‎ý “Người con gái Tuy Hoà” này, tác giả có sửa chữa, bổ sung một số bài viết, chi tiết… nhằm gửi đến độc giả một góc nhìn đẹp nhất về vùng đất và con người Phú Yên.

    Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc tác phẩm này.

    NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN


     
    Chỉnh sửa cuối: 7/7/19
    Diên Vĩ, Lạc HọaPanh thích điều này.
  2. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100
    PHẦN 1
    Truyện

    =======.....=======
    Người con gái Tuy Hòa

    Năm 1973, lúc đang công tác ở Ban miền Nam của Trung ương Đảng (Ban CP72), tôi gặp bà Thừa Hoàng Phan Thị Bỉnh, chị Trần Minh Thư, anh Nguyễn Thành Quang, chị Phan Thị Triêm và các anh chị em từ Tuy Hoà, Phú Yên ra miền Bắc chữa bịnh. Họ đã kể cho tôi nghe gương hy sinh của chị Trần Thị Có (ngày đó gọi là Nguyễn Thị Có). Xúc động trước gương hy sinh của chị, tôi đã viết thành một truyện ngắn đăng trên Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Trung ương. Sau ngày giải phóng, truyện ngắn này cùng các truyện ngắn khác viết về Phú Yên lấy chung tên tập “Người con gái Tuy Hoà”, được Hội Văn Nghệ Phú Khánh trao giải nhìn về truyện ngắn. Mãi sau ngày tái lập Phú Yên, tôi về thăm Hoà Thịnh, hôm đó tôi cùng đ/c Nguyễn Duy Luân người con của Hoà Thịnh lúc ấy là Uỷ viên TW Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Phú Yên. Chúng tôi đến dâng hô trước đài ghi công của xã để tưởng nhớ người liệt sĩ bất khuất của Hòa Thịnh, quê hương đồng khởi của Phú Yên và tưởng nhớ người nữ liệt sĩ Trần Thị Có. Tôi hoàn chỉnh lại truyện ngắn này, nhưng đúng ra là một truyện viết về sự hi sinh của chị Có với nguyên bản của sự thật. Và xin được xem đây như một đài hoa dâng lên hương hồn người con gái Hòa Thịnh anh hùng và hàng ngàn nữ liệt sĩ là các mẹ, các chị và các em gái thân thương của Phú Yên quê tôi.

    *

    * *

    Tên chủ sự mật vụ Phú Yên đang cúi gằm mặt xuống chồng hồ sơ để lộn xộn trên bàn. Bỗng cửa mở, tên thư kí bước vào, dập chân đứng nghiêm theo kiểu nhà binh:

    - Báo cáo thiếu tá, có hồ sơ di l‎ý của quận Hiếu Xương bên kia sông gửi về.

    - Tốt! - Tên chủ sự vừa nở một nụ cười khoan khoái vừa đưa tay chộp lấy tập hồ sơ.

    - Báo cáo có tang vật báo công gởi kèm.

    - Được, về chỗ.

    Tên thư kí lại dập hai bàn chân vào nhau, đưa tay lên vành mũ rồi quay đằng sau, bước ra khỏi phòng.

    Theo thói quen, tên chủ sự mân mê gói tang vật và ngẫm nghĩ: hai cái tai của thằng Việt cộng? Không phải, hắn thở phào. Một đứa con gái? Hắn lẩm bẩm và đưa bàn tay gân guốc mở gói tang vật. Một làn tóc đen huyền dính chặt với da đầu đang lượn dài dưới tay hắn. Hắn gật gù:

    - Con gái, một đứa con gái!

    Rồi nhanh nhẹn, hắn lật tập hồ sơ và giương mục kỉnh. Môt tập hồ sơ loại A từ bên kia sông Đà Rằng gửi sang.

    Hắn nheo mắt đọc kỹ:

    “Tôi, trưởng chi khu quận Hiếu Xương, xin báo cáo với thiếu tá một việc như sau: Vào hồi 6 giờ sáng ngày hôm nay, trong cuộc mai phục bất ngờ, chúng tôi đã tóm được một tên Việt cộng đầu sỏ với đầy đủ chứng cớ. Trong đó có các loại thuốc cần thiết cho bọn Việt cộng ở rừng như quinin, guanidan, aspirine, stovason… và mấy chục thước vải màu xanh, đỏ dùng để may cờ Việt cộng. Chúng tôi lấy cung phạm nhân ngay tại chỗ. Sau đây, xin phép thiếu tá cho tôi được tường trình cuộc khai thác đó:

    - Mày đi đâu? Đem vải và thuốc cho ai? Nói mau?

    Nó không trả lời, cho tới khi bị ăn roi gân bò, nó mới giở quẻ:

    - Tôi đem đi đâu kệ tôi, việc gì đến các ông?

    Thưa ngài thiếu tá, nghe hắn nói, tôi tức không chịu được, liền cho nó một trận mưa roi, nhưng nó vẫn nghiến răng không nói. Tôi cho lính đào một cái lỗ, bỏ nó xuống đó mà đe dọa:

    - Mày nói mau, nếu không chúng tao chôn sống.

    Đến lúc này nó mới mở miệng:

    - Các ông muôn tôi nói cái gì?

    - Được, mày hãy trả lời từng câu tao hỏi - Có phải mày đem vải cho Việt cộng làm cờ không?

    - Phải! - Nó thú nhận.

    - Vải này giao cho ai?

    - Cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng! - Nó thú nhận.

    - Đem đi đâu?

    - Lên núi.

    Tôi lại hỏi:

    - Ai bảo mày làm? Tên họ gì?

    - Thưa thiếu tá, đến đây nó lại cứng đầu: Còn ai bảo nữa? Chính các ông chứ còn ai.

    - Thưa thiếu tá, tôi chưa kịp hiểu đầu đuôi, nó đã thao thao bất tuyệt: “Chúng tôi ai cũng muốn yên ổn làm ăn. Nhưng vì các ông hà hiếp, áp bức chúng tôi. Vì vậy, buộc chúng tôi phải làm cách mạng, phải tự cứu nước và cứu mình…”.

    - Im! - Tôi trấn áp.

    - Ông sợ tôi nói à? - Nó lại tỏ ra cứng đầu và ngoan cố, quay về phía tụi lính :

    - … Phải, tôi đi theo Mặt trận, đi làm Cách mạng đó! Nhưng mà các anh nghĩ coi. Tôi làm đây là làm cho nước, cho dân, cho những người nghèo khổ. Đáng ra trai tráng các anh phải làm, các anh không đã chớ lại còn cản trở tôi.

    - Đấy, thiếu tá coi nó có phải là con Cộng sản đầu sỏ hiếm thấy không? Rõ ràng nó coi cái chết không ra gì. Tôi đã nổ sát bên tai nó mấy phát súng lục, nhưng nó vẫn trơ trơ như đá. Nó lại còn xổ thuyết Cộng sản ra thách thức:

    - Các anh muốn bắn tôi? Bắn để làm gì? Bắn để đàn áp phong trào cứu nước? - Nó lắc đầu - Vô ích, vì tôi chỉ là một hột cát, mà nhân dân kia mới là biển bờ.

    - Thưa thiếu tá, nghe nó nói đến đây, tôi không còn chịu được nữa nên mới quyết định thủ tiêu. Nhưng mới gớm làm sao! Đến lúc chết, nó vẫn còn giở ngón tình cảm. Nó cởi chiếc áo ngoài đưa cho mấy người lính và nói: “Các anh cho tôi nói lời cuối cùng à? Điều đó không cần, nhân dân tôi sẽ nói thay tôi bằng việc làm của họ. Ở đây tôi chỉ yêu cầu các anh một điều…”

    Thiếu tá có biết hắn yêu cầu gì không? Hắn cởi chiếc áo cánh ngoài đưa cho lính của ta và nói:

    - Tôi muốn nhờ các anh đưa chiếc áo này về cho con tôi để nó bán lấy tiền đong gạo và nhờ các anh nói với con tôi rằng: “Mẹ bây đi làm cách mạng, đã hy sinh rồi!”.

    Nó nói có bây nhiêu, vậy mà động tác kinh khủng. Bọn lính hổng thằng nào bắn trúng. Đấy, thiếu tá nghĩ coi, nếu như nó đi tuyên truyền nhân dân, trong binh ngũ của chúng ta thì nguy hiểm đến chừng nào. Vì thế, tôi đã tự tay kết liễu đời nó. Tôi không quên thủ tục thiếu tá dặn, tôi lấy mảng tóc dính theo da đầu của nó để làm tang vật.

    - Thưa thiếu tá, đã lâu năm trong nghề nhưng chưa bao giờ tôi gặp một tên “Cộng sản cái” nào nguy hiểm như nó. Tôi thấy rằng xử được nó là một đóng góp không nhỏ vào việc bảo vệ quốc gia. Vậy xin trình lên thiếu tá công tích này, Mong sự ưu ái cho hạ cấp, xin đội ơn.

    Cuối bức thư tên chủ sự mật vụ còn đọc được dòng tái bút: Tang vật gởi kèm: Một mảng tóc, những thứ bắt được và một thẻ căn cước mang tên TRẦN THỊ CÓ.

    Đọc xong bản báo công, tên chủ sự mật vụ gật gật đầu và đưa bút chì đỏ gạch chân dòng chữ: “Trần Thị Có - Loại A”, hắn vừa lẩm bẩm:

    - Một con Cộng sản loại A.

    Hắn lại đưa kính lúp xem những tuýp thuốc. Hắn xem kỹ hơn mớ tóc đen của người con gái đang nằm sóng sượt trên nền vải đỏ và xanh. Trong phút chốc, hắn như cũng nhận ra rằng: màu vải đỏ và xanh với mảng tóc ấy như có cái gì quyện vào nhau, như người con gái ấy đã vì màu đỏ và màu xanh của lá cờ Giải phóng mà hy sinh… nên hắn hốt hoảng gập lại và lẩm bẩm.

    - Trần Thị Có - Loại A.

    Hắn cố lục lại trong ký ức của hắn cái tên ấy. Hắn cố tưởng tượng xem hình dáng người con gái ấy như thế nào mà cứng đầu như thế. Nhưng vô ích, hắn rùng mình. Trước mắt hắn chỉ hình ảnh những người con gái bị bọn hắn treo ngược lên xà nhà đang nghiến răng chịu đòn vọt. Hắn lắc đầu, đưa tay bấm chuông. Tên thư ký lại bước vào và dập hai chân chào như một cái máy:

    - Dạ, thưa thiếu tá, tôi có mặt.

    - Cho tôi hồ sơ Trần Thị Có, Loại A. Loại A, vần C. Trần Thị Có. Rõ chưa? - Hắn nhắc lại.

    - Rõ.

    Lát sau, tên thư ký trở vào giao cho hắn một tập hồ sơ bìa đen có in chữ A màu trắng ở ngoài. Hắn lật ngay trang đầu tiên: Bên cạnh tấm ảnh người con gái trang nghiêm và không kém phần lịch sự có ghi đậm hàng chữ:

    - Trần Thị Có. 24 tuổi.

    - Quê quán: xã Hòa Thịnh, quận Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

    - Chồng là cộng sản, đã bị tiêu diệt năm 1955.

    - Bắt vì lí do: tham gia hoạt động chống lại chính quyền quốc gia, mua chuộc dân chúng, ủng hộ Cộng sản, gây mất trật tự an ninh quốc gia.

    Tên chủ sự mỉm cười thâm độc và đọc tiếp:

    “Cách khai thác:

    Lần hỏi cung thứ nhất: trấn áp tinh thần can phạm bằng roi - bị ngất - khi tỉnh dậy - hỏi cung. Can phạm nghiến răng không khai và hỏi lại:

    - Vì lý do gì mà các ông bắt và tra tấn tôi?...

    Lần thứ hai: cho đòn tâm lý: đưa con của can phạm vào, và dọa:

    - Khai thì được về với con, nếu không sẽ bị giết.

    Nhưng hắn kiên quyết:

    - Tôi không có gì để khai, các ông thả cho tôi về với con tôi.

    Sau đó đại úy trực tiếp khai thác.”

    Đọc đến đây, câu chuyện về người phụ nữ mà chính hắn trực tiếp ra tay tra khảo cách đây bôn năm đã hiện rõ trong óc hắn. Hắn nhớ người con gái vóc dáng mảnh khảnh, nhưng chắc khỏe, có mái tóc dài và đen. Hắn nhớ ra rồi, chính hắn đã mất gần 15 buổi sáng để tra khảo, hòng khai thác người con gái ấy. Hết cho đi “tàu bay” đến đi “tàu ngầm” vẫn không ăn thua. Hắn mới giở kiểu tra tấn theo sáng kiến của ngài cố vấn Huê Kỳ. Hắn nhốt người con gái vào một cái cũi sắt to và thả vào đó một con khỉ độc. Con khỉ độc đã được quan thầy của hắn huấn luyện, hùng hổ xông đến ôm chị… Nhưng không, chị không nhắm mắt khiếp sợ như một số người khác để mặc con khỉ độc xé áo, xé quần… Chị đã nhắm thẳng vào con khỉ độc tưởng như đó là một thằng giặc Mỹ - và dùng hết sức của mình bóp lấy cổ nó. Và cuối cùng, con khỉ độc - “thằng Mỹ mới” ấy đã lè lưỡi chết dưới bàn tay rắn chắc của chị.

    Tên chủ sự mật vụ còn nhớ rõ cặp mắt đanh thép và hàm răng cắn chặt của người con gái ấy. Hắn nhớ rất rõ chính hắn đã thở ra và ghi vào hồ sơ lời kết luận “Rất ngoan cố - Cộng sản loại A. Chuyển xà lim án chém”.

    Về sau, hắn được biết Trần Thị Có đã từ xà lim án chém vượt ngục, trở về tiếp tục hoạt động Cách mạng. Hắn tức tối điên cuồng, mất ăn, mất ngủ mấy ngày liền. Và cho mãi đến hôm nay…

    Nghe chừng vừa ‎ý với cách xử trí của Chi khu trưởng, hắn liền hấp ta hấp tấp mang hồ sơ sang trình với ngài cố vẫn Mỹ để xin thưởng (trước tiên là thưởng cho hắn, mà theo hắn thì công trạng này phải được khá lắm).

    Tên cố vẫn Mỹ đã nghe rất chăm chú, cuối cùng hắn rụt đầu so vai… và tức tối đập bàn:

    - Đây là thắng lợi của các ông à? Một con Việt cộng hai năm bỏ tù với đủ cách khai thác, bốn năm truy lùng mới bắt được, cuối cùng vẫn không khai thác được ở nó một tài liệu nào cả. Các ông nhầm. Nó chưa chết đâu. Cái giống Việt cộng nó như cái củ gì mà ông vẫn khoe với tôi là có bằm trăm khúc nó vẫn nảy mầm ấy? À, tôi nhớ ra rồi, cái củ gấu. Giết nó hay bằm trăm khúc thì nó vẫn giống củ gấu. Hiểu chưa ngài thiếu tá.

    Tên Mỹ nhăn nhở cười chế giễu, mỉa mai tên mật vụ tay sai của hắn.

    Hà Nội, 1973

    Tuy Hòa, 2009




     
    Last edited by a moderator: 6/7/19
    Diên Vĩ, Lạc Họa, Panh1 other person thích điều này.
  3. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    N. 145 (*)

    (*) Giải thưởng truyện ngắn hay 2012 của Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn Việt Nam).

    “Ha, ha… ha…! Chúng mày đừng hòng, chúng mày giết tao ư? Tao không sợ… A! A! Giết tao à? Được thôi, nhưng mày sẽ bị nhân dân tao trả thù. Kẻ sẽ chết là chúng… mày… Là thằng Nguyễn… Văn… Thiệu.”

    “Mẹ, mẹ… ơi, mẹ của tôi, mẹ anh hùng…”

    Những con mê sảng như vậy cứ tiếp diễn ở bệnh nhân. Kể từ lúc tiếp nhận ở trạm Thạch Hãn cho đến giờ, đã 20 tiếng đồng hồ rồi mà bệnh nhân vẫn triền miên trong nhưng cơn hôn mê như vậy. Các liều thuốc cấp cứu có làm dứt cơn, nhưng bệnh nhân không tỉnh lại. Cơn mê sảng kéo dài và biểu hiện mỗi lúc một xấu đi. Quả thật, đây là một bệnh nhân khó xử lý mà tôi mới gặp lần đầu. Tôi gần như có mặt đủ 20 tiếng đồng hồ bên cạnh bệnh nhân. Tim tôi nhiều lúc thắt lại, hồi hộp khi thấy huyết áp tăng đột biến, nhưng nhịp tim và nhịp thở của bệnh nhân lại tụt xuống và yếu ớt. Tuy nhiên, sự cố gắng của chúng tôi cũng hồi sức được cho bệnh nhân sau mỗi cơn mê. Bữa cơm chiều tôi chưa có thì giờ để ăn. Chúng tôi phải giành giật anh trước cửa tử thần từng phút một. Tôi cũng tranh thủ những lúc bệnh nhân hồi phục để lập bệnh án. Những anh chị em cũng từ nhà tù Mỹ - Thiệu trở về đã giúp tôi những điều cần thiết của bệnh án. Bệnh nhân của tôi có nhiều tên, nhưng gọi anh tên nào cũng lắc đầu. Anh chỉ nhận mình là N.145. Đó là bí số, cũng là tên kẻ địch đã gọi anh suốt 9 năm qua. Trong cơ mê, anh vẫn tự xưng mình là N.145. Thực ra N.145 chỉ là một bí số của anh trong hoạt động tình báo. Kẻ địch đã bắt nóng anh và anh cũng chỉ nhận mình là N.145. Về sau, chúng hỏi mãi anh mới khai tên là Hồ Chiến Thắng, nhưng luôn luôn anh xưng mình là N.145.

    - Tên tao ấy à? Chúng mày biết đó, N.145! Vậy thôi. Đây tên tao, bây kẻ to tướng trên bìa hồ sơ đây còn gì nữa. Mù hay sao mà không đọc được? Ha… ha… Chúng mày là một lũ mù! Ha… ha… ha… 145, N.145 đây, nghe chưa? Biết chưa hở thằng Thiệu mù kia?

    Tôi đã lập xong bản bệnh án của N.145 mà tưởng như mình vừa đi qua một quãng đời xót xa và anh dũng của một con người. Tôi đến bên giường bệnh, anh vẫn đang ngủ trong cơn mê mệt. Đôi mắt anh vẫn nhắm nghiền, và nhịp thở ra yếu ớt. Nhưng vầng trán cao của anh có thể nói được về những ngày bất khuất của anh. Tôi ngồi đọc lại bệnh án và hy vọng sẽ phát hiện được điều gì đó cho việc phân định bệnh và chỉ định điều trị.

    “Hồ Chiến Thắng, 37 tuổi, bị Mỹ bắt giam từ tháng ba năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm, được trao trả lúc mười giờ sáng ngày mười tháng tư năm một ngàn chím trăm bảy mươi ba tại trại Thạch Hãn (Quảng Trị). Tình trạng bệnh nhân lúc tiếp nhận: tỉnh táo, thể trạng suy nhược nặng, gầy, da xanh, môi thâm tím, trên trán bên trái bị thương còn băng. Một cán bộ y tế hỏi thăm vết thương ấy, bệnh nhân nói: “Chúng nó đánh, sáu tháng rồi chưa lành. Nhưng khỏi lo, về đây là lành thôi…”. Nói xong, bệnh nhân thét lên dữ dội và ngã vật ra hôn mê.

    Huyết áp tại chỗ không đo được (do bệnh nhân giãy mạnh quá).

    Tim: nhịp một trăm bốn mươi lần phút, đập gấp, mạnh nhưng không đều. Nhiệt độ: ba mươi chín độ năm. Phổi: tiếng thở thô, nhịp thở nông. Gan to ba xăng-ti-mét, sờ thấy dưới bờ sườn, ấn đau. Có nhiều tĩnh mạch nổi dọc cổ, cằm hơi bạnh ra. Mắt dại, đồng tử giãn. Các phản xạ: dường như không thấy. Bệnh nhân mất cảm giác dưới da. Cơn mê liên tục. Bệnh nhân giãy giụa, tay chân cứng…

    … Theo anh em cùng trao trả kể lại, bệnh nhân ngày trước tham gia lực lượng vũ trang giải phóng, bị bắt trong khi làm nhiệm vụ. Chúng tra tấn đủ các cực hình như: đóng đinh vào đầu ngón tay, ngón chân; tra điện vào chỗ hiểm; đổ nước xà phòng cho căng bụng rồi cho bọn tay chân dẫm chô trào nước ra đường mũi, mồm…; bắt ngồi trước những bóng đèn mấy nghìn oát; hay bị đánh vào vai, đầu…

    … Bênh nhân bắt đầu có cơ mê sảng từ năm một nghìn chín trăm bảy mươi. Khi kẻ thù đem mẹ anh ta đến và bắt bà khuyên anh đầu thú… Anh ta và cả bà mẹ đều không chịu thua kẻ thù. Bọn chúng đã giết bà mẹ trước mặt anh.

    Những con mê càng về sau càng dài và gần nhau hơn. Trong những con mê, anh thường cười rất đanh vào mặt kẻ thù và luôn ca ngợi mẹ mình. Bọn địch thường tức giận đánh anh cả trong lúc lên cơn…

    N.145 của tôi vẫn triền miên trong những cơn mê như vậy. Tôi cứ hy vọng sau mỗi giấc ngủ, anh sẽ tỉnh lại như mọi bệnh nhân thần kinh khác. Nhưng ở N.145 thì khác, cơn này tiếp cơn kia, mê sảng rồi ngủ, ngủ dậy lại lên cơn. Tôi đã bắt đầu thấy thiếu tự tin ở những liều thuốc và ngay cả kiến thức nhỏ bé của mình. Tôi thấy lúng túng trong chẩn đoán. Dường như một con bệnh mà tổng hợp cả những kiểu hôn mê: của một cơn A-dam Stốc của tim, một con sốc hạ glu-cô-za máu, cũng có hiện tượng của một kiểu tăng urê máu và càng có nhiều triệu chứng của những cơn động kinh do chấn thương não… Đã có lúc tôi thấy bụng dạ mình cồn cào. Tôi lo không cứu được anh. Bởi vậy nên mỗi lần hội chẩn, tôi thường nêu ra nhiều giả định để tập thể anh chị em bác sĩ giúp tôi phân định dần và tôi yêu cầu tăng cường hội chẩn. Cũng có thể nói rằng: Đối với nghề nghiệp của chúng tôi, cái chết của một bệnh nhân không phải là ít gặp và những bệnh nhân thập tử nhất sinh không phải là không nhiều. Tôi cũng đã nhiều lần thức trắng, đem hết tâm trí ra cùng anh chị em cứu sống họ. Có những trường hợp sự cố gắng của chúng tôi không có kết quả. Nhưng… mỗi chúng tôi đều thấy nhẹ lòng vì mình đã tát đến gầu nước cuối cùng…

    Vậy nhưng ở N.145 này, ở người bệnh nhân tôi mới tiếp xúc có hai mươi tiếng đồng hồ này, như có một cái gì gắn bó quá mức. Tôi biết mình đã cố gắng đến tối đa… nhưng nếu anh ta qua đời thì tôi không thể yên tâm được. Tôi tự hỏi cái l‎ý do đó và có thể trả lời ngay rằng: Anh ta đã sống qua một thời đại man rợ của bọn giết người. Chúng nó đã không giết được anh. Anh đã về đây, như bí danh của anh, đó là người chiến thắng. Vậy lẽ nào chúng tôi khoanh tay… Nỗi băn khoăn, lo lắng đến tột cùng của tôi và đồng nghiệp của tôi chính là chỗ đó.

    *

    * *​

    Đêm đã gần hết. Một con chim lạ ở phía sân bay Ái Tử thức dậy kêu lanh lảnh, chắc đó là một con chim sống sót được qua những đợt mưa bom bão đạn. Tôi nhìn ra ngoài, trời đã bừng sáng. Khí trời lành lạnh của buổi sớm mai theo ngọn gió từ phía sông Hiếu nhè nhẹ thổi vào mặt. Tôi thấy người tỉnh táo sau một buổi chiều và một đêm thức trắng căng thẳng. Tôi đứng bên khung cửa sổ, hít không khí trong lành của ban mai với nhiều hy vọng. Bỗng từ phía giường bệnh, N.145 cựa mình và xin nước uống. Tiếng nói của anh rất nhỏ nhẹ. Thôi quen của nghề nghiệp giúp tôi nhận thấy anh đã tỉnh lại. Như một niềm vui lớn, tôi hớn hở đến bên anh. Đôi mắt anh đã trở lại bình thường với những nét hiền từ trong sáng.

    - Anh khát nước phải hông?

    - Dạ!

    Tôi rót nước sâm đã pha sẵn cho anh uống. Anh ngoan ngoãn như một đứa trẻ, ực từng thìa một. Tôi nhìn anh uống ngon lành và ngắm khuôn mặt anh - Nghề y của chúng tôi vẫn thường ngắm như vậy, không phải để bình luận cái đẹp, cái xấu trên khuôn mặt của một con người mà là để tìm sự đổi thay ra nhận ra bệnh tật.

    Khuôn mặt của anh biểu hiện rõ những tháng năm cơ cực sống trong nhà tù đế quốc. Đôi gò má nhô lên, cằm hơi bạnh ra cùng với vầng trán cao tỏ rõ sự kiên nghị vốn có ở anh. Đôi mắt anh vẫn ẩn chứa sự mệt mỏi của con bệnh…

    - Anh có đói không?

    - Dạ, không.

    - Anh mệt lắm phải không?

    - Ừ, cũng mệt… Bác sĩ ơi, đây là bệnh viện nào vậy?

    - Dạ, đây là bệnh viện vùng giải phóng của ta.

    - Vậy na, chu cha, sướng quá hè! Tôi được về thiệt rồi na…

    - Dạ, thiệt đó.

    - Sướng quá hè…

    Đôi môi anh nở một nụ cười rất cởi mở. Nụ cười như cái dấu chấm của một phương trình quá khó đã được giải. Tôi muốn hỏi anh thêm về con bệnh của anh, nhưng lại sợ trong những câu hỏi của mình có điều gì khơi lại những k‎ý ức đầy đau thương và căm giận trong anh không? Biết đâu một sự vô tình đã kéo con bệnh trở lại… Tôi ngồi im, xin anh cho đo huyết áp. Cơ thể anh trở về trạng thái bình thường. Con tim anh đập thong thả, tuy có mệt những vẫn rất gọn gàng. Tôi nghe những nhịp đập của tim anh mà thấy lòng mình nhẹ nhõm. Cả ngày hôm đó, từ lúc rời bệnh viện để về nơi nghỉ, tôi không tài nào chợp mắt được. Đôi mắt của N.145 như một tia sáng chiếu ngược vào mắt tôi. Tôi thấy có một cái gì đó cứ lẩn quất trong đầu. Tôi cố gạt đi và từ cho rằng đó là do mình cảm phục về một quá khứ trung kiên, dũng cảm, gan góc của N.145.

    Cuối buổi chiều của ngày thứ ba, như thường lệ, tôi trở lại bên giường bệnh của N.145. Thấy tôi, anh ngồi nhổm dậy và tươi tắn hẳn lên:

    - Chào bác sĩ. Chà, mấy ngày qua bác sĩ vất vả với tôi quá hè?

    - Dạ, có gì đâu anh. Hôm nay anh thấy trong người thế nào?

    - Khỏe rồi… Nè, bác sĩ ơi, tôi muốn được đi ra ngoài trời một chút có được không?

    - Được lắm, điều đó cũng rất cần đối với anh.

    Tôi hiểu lòng anh, nỗi lòng của một chiến sĩ chín năm ngồi trong tù đế quốc… Tôi đưa anh ra phía hành lang và giới thiệu với anh quang cảnh xung quanh. Nơi cột cờ kia là tháp canh cũ ở đầu đường 9 giữa thị xã Đông Hà, bây giờ là “thủ phủ” của Chính quyền Cách mạng tỉnh Quảng Trị. Phía Nam, cả khu vực ngổn ngang đuya-ra, sắt thép nằm chỏng chơ kia là sân bay Ái Tử.

    - Chu cha, đáng đời chúng nó. Ở đây trước anh em mình đánh giỏi lắm bác sĩ hè?

    - Dạ…

    Anh nhìn say sưa những lá cờ Cách mạng bay phần phật trước gió và ngắm no con mắt khoảng trời tự do. Trời xanh kia, những áng mây xốp bồng bềnh, và những cánh chim chiền chiện bay lượn lanh lảnh tiếng hót véo von kia, với anh đều mới lạ và thân thiết. Những ngày trong xà lim, cũng như những chiến sĩ cộng sản khác, anh chỉ thèm một tia nắng dọi, thèm một luồng gió mát. Bây giờ tất cả đã có quanh anh. Có lẽ những cái đó gợi cho anh về quê hương. Anh quay lại hỏi tôi:

    - Nè, tôi hỏi không phải, bác sĩ quê ở tỉnh nào? Gia đình có còn ai không?

    Câu hỏi của anh làm sống lại trong tôi những kỷ kiệm về quê hương gia đình. Mười chín năm rồi, tôi không được một tin gì khác ngoài cái tin ác độc: Anh tôi đã hy sinh ở Côn Đảo và mẹ tôi bị giặc bắt. Hai cha con tôi đi tập kết. Ngày đó tôi mới bảy tuổi. Anh Hai tôi còn đưa tôi xuống tận bến cảng để tiễn biệt. Dù đã gần hai mươi năm trôi qua, tôi không thể quên được hình ảnh buổi chiều đó ở bến cảng Quy Nhơn. Anh Hai tôi đã đứng ngoài chắn ba-ri-e khu cảng, giơ cao tay vẫy chào cha tôi và tôi. Tôi quay lại nhìn anh rồi bước xuống tàu theo cha mà thấy lòng bùi ngùi quá. Mới đó, bảy nghìn ngày rồi! Tôi đã lớn lên trên miền Bắc, đã tốt nghiệp trường đại học Y khoa. Đáp lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, cả hai cha con tôi đều tình nguyện trở về miền Nam chiến đấu. Cha tôi về khu Năm và được chiến đấu trên mảnh đất quê nhà. Bản thân tôi được vào quân y, tham gia chiến dịch giải phóng Quảng Trị và bây giờ làm nhiệm vụ đón tiếp anh chị em tù chính trị do kẻ địch trao trả. Đã nhiều lần, tôi hy vọng trong những đoàn người từ bên kia sông Thạch Hãn trở về, trong những bệnh nhân tôi khám đây, sẽ có người mẹ thân yêu của tôi.

    Bỗng dưng, tôi thấy mình nhỏ bé lại và trước N.145, tôi không phải là một bác sĩ mà chỉ là một đứa em gái quê hương của anh. Tôi kể vắn tắt anh nghe về hoàn cảnh của tôi. Anh ngồi im lặng như thông cảm với tâm tư của tôi. Bỗng anh quay lại hỏi tôi dồn dập:

    - Bác sĩ năm nay bao nhiêu tuổi?

    - Dạ, 26 tuổi.

    - Vậy na, vậy thì qua(1) hỏi thiệt, em quê ở xã gì?

    - Dạ em ở An Chấn.

    - Chu cha! - Anh thốt lên mừng rỡ - Vậy chớ hồi ở nhà em có tên gì nữa không?

    - Dạ! Cha mẹ em gọi là…

    - Có phải là Bốn không?

    Ôi! Mười mấy năm sống ở miền Bắc, có mấy ai biết cái tên cúng cơm đó của tôi. Như có một luồng điện chạy qua người, toàn thân run lên, tim đập gấp, tôi quay mắt lại nhìn thẳng vào mặt anh :

    - Dạ phải…

    - Trời ơi!... Bốn… Anh đây mà… Anh Hai của em đây mà.

    - Anh Hai! - Tôi reo lên trong xúc động và không sao cầm được nước mắt.

    - Bốn, trời ơi! - Anh ôm chầm lấy vai tôi lắc lia lịa - Con nhỏ, mày lớn thế này… - Anh đang ngập trong niềm vui thì bỗng hai mắt anh nhắm lại, mặt biến sắc và anh đưa tay ôm đầu… Nỗi xúc động vui sướng trong tôi bị cắt ngang, anh ngất trong tay tôi.

    - Anh Hai, anh Hai! - Tôi gọi anh, tiếng gọi của một đứa em gái chứ không phải của một bác sĩ nữa.

    Mọi người đến giúp tôi đưa anh vào giường. Anh cười sảng khoái. Anh cười to và vui mà lòng tôi thì như dao cứa. Anh cười bao nhiêu tôi khóc bấy nhiêu.

    Những đồng đội của tôi và những bệnh nhân nằm cùng phòng rất ngạc nhiên. Họ chưa chia trọn với anh em tôi niềm vui xum họp thì phải chia với tôi nỗi đau… Anh nằm im lặng một chút rồi lại cười, cười sang sảng, khoan khoái như lúc đầu.

    - Thiệu ơi, mày thua rồi, thua cuộc rồi! Mày không giết được tao, tao đã trở về với Tổ quốc tao, gia đình tao… Ha… ha… ha…

    Tôi đứng bên anh, săn sóc anh và làm những động tác của một bác sĩ nhưng sao thấy mình không phải là bác sĩ. Tôi thấy bối rối quá. Bỗng lúc đó, Bác sĩ trạm trưởng cùng mấy anh chị em đồng nghiệp khác của tôi đến với tôi. Bác sĩ trạm trưởng đến bên anh tôi và hỏi :

    - Đây là anh ruột của đồng chí à?

    - Dạ, phải ạ.

    - Xin chúc mừng đồng chí, bây giờ thì “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Một bên nghĩa nước, một bên tình nhà. Thường thường, chúng ta phải vì nghĩa nước mà hy sinh tình nhà, nhưng đồng chí thì đạt cả hai. Phải không?

    - Dạ! - Tôi khẽ đáp.

    - Diễn biến bệnh nhân có gì mới không?

    - Báo cáo thủ trưởng, tình trạng huyết áp và nhịp tim ở biên độ cho phép, đồng tử giãn ít…

    Bác sĩ trạm trưởng nghe tim, xem lại hồ sơ và nói:

    - Đồng chí phải rất bình tĩnh. N.145 đang mê, nhưng đây là cơn mê do xúc động bởi niềm vui… Cơn hôn mê đó sẽ không kéo dài, có phải vậy không các đồng chí? Bây giờ cho bệnh nhân ngủ và có thể xác định hướng điều trị lâu dài được rồi. N.145 là một chiến sĩ kiên cường, cuộc đoàn tụ hôm nay sẽ thêm sức để anh ấy có thể nhanh chóng hồi phục.

    Tôi thấy lòng nhẹ nhàng dễ chịu. Tôi nắm chặt tay anh và hy vọng sau giấc ngủ, anh sẽ tỉnh dậy và nụ cười hiền dịu của người chiến sĩ giải phóng, của anh hai tôi sẽ nở trên môi.

    Đông Hà, mùa xuân 1974
    (1) Qua: tiếng miền Trung có nghĩa là anh (xưng thân mật).
     
    Last edited by a moderator: 6/7/19
    Diên VĩPanh thích điều này.
  4. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    Linh hồn sống (I)
    Sau những tháng ở trại huấn luyện, tôi được bổ sung về trung đoàn chủ lực số 47 của quân ngụy ở Phú Yên. Những tên sĩ quan của trại nói: “Cho tôi về trung đoàn này để tôi được “chiến đấu” trên mảnh đất “chôn nhau cắt rốn”. Chiếc ô-tôi nhà binh leo qua đèo Cả đưa tôi về với Phú Yên. Hôm đó, ngồi trên xe, nhìn dãy Chóp Chài và núi Nhạn Tháp quá đỗi thân yêu của quê mẹ mà bao cay đắng, tủi hờn trộn lẫn yêu thương cứ trào dậy trong tôi.

    … Chính đó, tôi đã ra đời ở dưới chân núi Chóp Chài, đã lớn lên ở đó và những ngày tuổi thơ, tôi đã sống rất trọn vẹn trong tình thương của cha mẹ. Nhưng rồi… bọn Mỹ kéo tới… Những thằng cố vẫn đã vạch một con đường chạy qua nhà tôi. Tôi làm sao quên được buổi sáng đó… Chiếc xe ủi đất đến xúc những cây cau, mảnh vườn và ngôi nhà thân yêu của tôi. Căm ức quá, cha tôi đã cùng bà con chống cự lại… Bất chấp, bọn chúng đã nổ súng bắn vào đám người tay không đó và cha tôi là một trong những người đầu tiên đã ngã xuống. Trước khi tắt thở, cha tôi chỉ nói lại với mẹ:

    - Tôi chết, cứ chôn tôi ở cái chỗ này.

    I

    Mất người trụ cột trong gia đình, mẹ tôi buồn rầu ốm nặng. Tôi xoay hết cách để thuốc thang cho mẹ mà không khỏi. Có người bày tôi vào Nha Trang tìm thầy lấy thuốc. Tôi gởi mẹ lại cho bà con và ra đi. Nhưng, éo le thay, chưa tìm được thuốc thì đã bị bắt vào lính. Bọn ngụy quyền ở đây nói tôi trốn lính ở Phú Yên nên phải vào lính ở Khánh Hòa và họ đọc cho tôi nghe “cái luật bắt lính”: Ai trốn lính sẽ bị ra tòa. Tôi không còn hy vọng gì để về với mẹ. Nửa tháng sau, tôi được tin người mẹ thân yêu của tôi đã qua đời… Ôi, có đau khổ nào hơn khi người mẹ qua đời mà không nhìn thấy mặt. Thế là hết, cuộc đời tôi như chiếc bèo trôi giữa dòng sông lớn. Cha mẹ không còn, nhà cửa không có. Tôi thấy quanh mình lúc nào cũng là đêm tối, nghẹt thở. Đau khổ chất chồng đau khổ. Tôi như hết đường đi tới mà cũng không có ngõ trở lại. Kệ nó, mặc cho đời, tôi dường như không cần cái sống nữa. Cứ thả đời vào cái say của rượu. Và gần 300 ngày trôi qua, tôi mặc nhiên trong bộ quần áo “lính của ông Thiệu”. Có lần ở Khánh Hòa, tôi gặp một người cùng làng. Mừng quá tôi gọi tên bác ấy. Bác ta quay lại và nhận ra tôi:

    - À, thằng Sơn!

    Nhưng khi thấy tôi trong bộ đồ lính với giọng kề cà của rượu, bác ấy quắc mắt:

    - À, té ra mày đi tìm thuốc cho mẹ mày là như vầy!

    Và không nói thêm, bác ấy gằn giọng:

    - Ai quen với mày mà bác với cháu!

    Nói xong, ông già nhổ nước miếng và quay đi.

    Tôi như bị tát vào mặt, hờn tủi trào lên. Tôi muốn rứt hai cái lon của trường hạ sĩ trên vai ném cho rảnh. Nhưng không được, tôi sẽ bị vào tù ngay lập tức.

    Khi trở về Phú Yên, với đồng lúa mênh mông của đất mẹ này, cứ mỗi lần nhìn thấy mây phủ trên đỉnh Chóp Chài tôi lại nhớ mẹ, nhớ cha thiết tha, da diết. Tôi muốn nói chuyện với tất cả những người anh, người chị, người cô, người bác của quê hương mà tôi gặp. Nhưng ai cũng tin vào lời đồn đại rất hung về câu chuyện tôi bỏ mẹ chết ở nhà để vào lính “quốc gia” kiếm lương tiêu xài. Ai cũng khinh bỉ và rẻ rúng tôi. Sự không nhìn nhận của bà con, của quê hương đã đẩy tôi đi xa hơn. Thời gian cứ trôi qua và mỗi ngày trôi qua là mỗi ngày đen tối đến với tôi. Đơn vị tôi lại gây những tội ác mới với nhân dân, và khẩu súng trên tay tôi dù chưa giết ai, nhưng cũng nặng trĩu tội lỗi với quê hương. Nhiều buổi chiều, tôi đã đứng lặng người nhìn dòng sông Đà Rằng uốn khúc như một cánh tay ôm vòng lấy thị xã Tuy Hòa mà nghĩ đến bàn tay thân yêu của mẹ, của cha. Tôi thầm gọi tên mẹ trong những đêm tối và cả trong những cơn sau của rượu. Nhưng… ngày tháng vẫn trôi qua, và cái tên Sơn mà mẹ đã đặt cho tôi vẫn còn nằm trong sổ tội ác của đời và của quê hương.
     
    Last edited by a moderator: 6/7/19
    Diên VĩPanh thích điều này.
  5. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    Linh hồn sống (II)
    II

    Một sáng tháng 4, cả trung đoàn 47 ngụy được lệnh đi “bình định” ở vùng núi Tuy An, nơi các ngài cố vấn Mỹ gọi là “đất thánh” của “Việt cộng”, Cuộc càn quét đến ngày thứ chín thừ viên chỉ huy giao cho tôi giữ một người du kích mà chúng vừa bắt được tại chỗ. Cô ta bị thương ở chân. Tối hôm đó, thằng Mỹ và bọn chỉ huy vào hỏi cung chị. Chúng dùng mọi cực hình tra tấn, nhưng câu trả lời đầu miệng của chị vẫn là:

    - Không biết.

    - Đi tìm “Việt cộng” mà hỏi.

    - Không ai bày cho hết, đánh lại quân xâm lược là nhiệm vụ của tất cả mọi người.

    Tôi chứng kiến sự kiện này với tấm lòng thầm kính phục người con gái. Như đọc được suy nghĩ của tôi, cô nhìn thẳng vào tôi như muốn nói: “Còn suy nghĩ gì nữa”. Đêm nay, bọn chúng đánh cô ta dữ quá. Tôi nhắm mắt không dám nhìn vào cảnh tượng đó. Và trong một lúc suy nghĩ, tôi thấy rùng mình: Nếu người con gái kia là chị hoặc em con bà cô, ông chú của mình thì sao…

    Một loạt súng nổ kéo tôi về với thực tại. Quân Giải phóng đêm ấy đã tấn công vào khu vực đóng quân của chúng tôi. Súng nổ bốn phía. Thằng Mỹ hốt hoảng, nói với bọn ác ôn ngụy:

    - Nó không chịu ăn roi thì cho nó ăn đạn thôi chứ?

    Cả bọn kéo ra cửa thì thầm bàn tán với nhau. Tôi ngồi nhìn người con gái, nhìn thằng Mỹ và bọn ác ôn, lòng phân vân bối rối. Giết cô ta? Cứu cô ta? Cứu bằng cách nào, liệu có thoát khỏi tay những thằng quỷ sứ này không? Tôi lại nhìn chúng và nhìn người con gái. Cô ta cũng nhìn tôi, như hiểu được những đợt sóng trong lòng tôi, cô nhìn thẳng vào tôi và mỉm cười. Ôi, cái cười kề bên cái chết sao mà đẹp, mà thiêng liêng, mà mạnh mẽ đến vậy! Không, không thể được, không thể tắt đi những nụ cười và những tia sáng của đôi mắt ấy được. Tôi quay tiểu liên đã lên sẵn cò kết liễu đời tên Mỹ và những tên ác ôn ngụy. Tôi lao đến mở trói cho cô du kích, dìu cô chạy về phía cánh rừng mà e rằng ở đó có quân Giải phóng. Nhưng ác quá, đôi chân cô bị đánh dập nát cả và một ngày đói khát, tra tấn, đã làm sức cô kiệt quệ. Cô không đứng dậy được nữa. Chứng kiến việc làm của tôi, cô nói:

    - Anh cứ để tôi đây, chạy về bên trái sẽ gặp quân Giải phóng.

    Sự việc diễn ra nhanh quá, tôi không kịp suy nghĩ gì thêm, tôi chỉ nghĩ rằng: Dù thế nào tôi cũng phải đưa người con gái ấy trở về với quân Giải phóng. Tôi xốc cô ta lên vài và lao về phía bên trái, dưới tầm đạn lửa đạn chéo nhau phía trước, phía sau và trên đầu.
     
    Last edited by a moderator: 6/7/19
    Diên VĩPanh thích điều này.
  6. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    Linh hồn sống III
    III

    Rừng già của đêm tối nhiều lúc thật ghê rợn và bí ẩn. Rừng với chúng tôi lúc này lại quá đỗi gần gũi và vô cùng hùng vĩ. Rừng của quê hương đang đùm bọc, che chở chúng tôi. Tôi cõng người nữ du kích kiên cường đó chạy cho đến khi tiếng súng thưa dần mới dừng lại. Người con gái khát nước, tôi đặt cô xuống, định đi tìm nước. Nhưng biết tìm đâu ra, cổ tôi cũng đang cháy bỏng vì khát. Hiểu được điều đó, người con gái nói:

    - Trong đất có nước, cứ nằm xuống hít mấy hơi sẽ dễ chịu.

    Và cô ghé mũi xuống đất thở đều. Tôi làm theo. Ôi! Đất của quê mẹ, cái mát của sương đêm, của núi, của rừng cứ râm ra chạy khắp người tôi. Đất hồi sức và cho tôi sự tỉnh táo. Tôi nghe từ trong lòng đất đâu đây có tiếng giục giã của mẹ, của cha:

    - Cố lên, cố lên con!

    Tôi đỡ cô gái đứng dậy, cõng cô tiếp tục lên đường. Trong đêm tối, cô gái chỉ đường cho tôi đi. Rất đều, rất đều, bên tai tôi cứ thều thào một giọng rất êm: “Bên trái, bên phải, đi tới, đi tới, quẹo bên này, đi tới.” Trên lưng tôi, trái tim cô gái vẫn đập đều. Hơi ấm nơi lồng ngực có trái tim sắt thép đó truyền cho tôi sức mạnh mới.

    Bỗng người con gái nghẹo đầu trên vai tôi lặng đi, một sự im lặng đến lạ lùng, tôi chỉ còn nghe tiếng chân tôi đạp trên đất và tiếng đập của trái tim. Tôi khẽ hỏi:

    - Có mệt lắm không cô?

    Người con gái thì thào với giọng lạc đi:

    - Để tôi ở đây, anh cho tôi ở đây…

    Linh tính báo cho tôi một sự không lành sẽ đến. Tôi vội vàng đặt cô xuống một thảm cỏ. Trong hơi thở gấp cô nói:

    - Anh để tôi ở đây… đi đi… đi về phía có hòn Cao… đi hết đêm… sáng ra thế nào cũng gặp… anh em chúng ta…

    Nói xong, cô tắt thở. Trái tim thiêng ấy đã ngừng đập. Duy chỉ có ánh sáng trong đôi mắt cô vẫn còn long lanh dưới trăng sao. Đôi mi quái ác như cánh cửa của tử thần cứ từ từ khép lại và khóa kín cái ánh sáng thiêng liêng đó. Tôi lay, tôi gọi, tôi hy vọng trái tim kia sẽ đập lại, dù rất khẽ và đôi mắt kia sẽ mở lại, nhưng tất cả đều là vô vọng. Tôi thấy như cô gái chỉ đang ngủ một giấc say sưa sau những cuộc thi gan với kẻ thù.

    - “Đi đi… đi hết đêm… sáng ra thế nào cũng gặp anh em của chúng ta…” - Lời nói ấy có một sức sống kì diệu, như kim định hướng của chiếc địa bàn trong đêm tối.

    - “Anh để tôi ở đây… đi đi…” Có thể nào làm được điều đó? Tôi xốc cô lên vai và đi về phía hòn Cao. Trên lưng tôi giờ đây là một thi thể đã chết thực sự, thế nhưng tôi thấy không hề xa lạ, tôi như vẫn nghe bên tai một giọng thì thầm quen thuộc:

    - “Đi đi… đi về phía hòn Cao… hết đêm… sáng ra…”. Rõ ràng cô vẫn sống và đang dẫn tôi ra khỏi bóng tối của cuộc đời, đưa tôi về với ánh sáng của chân l‎ý. Cô là linh hồn sống của tôi và đang đưa tôi về với Cách mạng. Tôi đã đi như vậy trong giữa rừng với ánh trăng bàng bạc và những vì sao rất sáng. Tôi nhìn ánh trăng của bầu trời đêm, bỗng thấy mặt trăng là gương mặt dịu hiền của cô và các vì sao xa xôi kia là đôi mắt của cô. Trong đêm đó, tôi đã gặp các đồng đội thân yêu của cô. Gặp tôi, không cần nói nhiều, thi thể của cô trên vai tôi đã là cái chứng minh thư sống cho sự giác ngộ của tôi. Mấy tuần sau, Ban chỉ huy đơn vị quân Giải phóng nhận tôi vào hàng ngũ Cách mạng. Người chỉ huy nói với tôi: “Với anh không cần phải thử thách nữa, đồng chí Hường đã công nhận và giới thiệu sự giác ngộ của anh với chúng tôi.” Hường là tên người con gái mà mãi đến khi gặp quân Giải phóng tôi mới biết. Từ đó, tôi trở thành đồng đội của Hường. Sau mỗi lần chiến đấu thắng lợi trở về, trong bộ quân phục màu lá với chiếc nón tai bèo thân yêu và khẩu tiểu liên của Mỹ cấp cho tôi ngày trước, tôi lại đến bên mộ Hường, đặt lên đó những nắm hoa rừng tươi thắm. Và những lần như thế tôi lại thầm hứa với anh linh của Hường: Sẽ chiến đấu và sẽ sống trọn vẹn với đất mẹ quê hương.

    Hà Nội, xuân 1972.

     
    Chỉnh sửa cuối: 7/7/19
    Diên VĩPanh thích điều này.
  7. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100


    Những người sống mãi
    Viết theo nguyên mẫu đợt chiến đấu

    của các chiến sĩ tiểu đội Tám Sơn

    ở Phú Yên quê tôi.
    Đêm hôm đó, tiểu đoàn bộ cho biết địch đang càn to vào vùng hậu cứ tỉnh Phú Yên. Chúng tiến công bằng hai cánh, một cánh chính gồm mấy tiểu đoàn tinh nhuệ và một cánh bọc hậu. Tiểu đoàn quân Giải phóng địa phương chúng tôi được lệnh phải tìm mọi cách để chặn chúng và tiêu diệt chúng. Ban tham mưu tiểu đoàn sau khi bàn kế hoạch, quyết định thành lập một tiểu đội xung kích làm nhiệm vụ chặn cánh hậu để tiểu đoàn rảnh tay tiêu diệt lực lượng chính của địch Tiểu đội xung kích được thành lập gồm mười hai người đã được thử thách qua các cuộc chiến đấu hiểm hóc trước đây. Tôi được tham gia vào tiểu đội này kiêm thêm nhiệm vụ cứu thương. Biết nói sao cho hết xúc cảm khi nghe tiểu đoàn trưởng đọc đến tên mình. Lúc ấy, tôi vô cùng cảm động và hồi hộp. Mà không xúc động sao được, không hồi hộp sao được khi được tiểu đoàn tín nhiệm cho ra trận.

    Mười hai người chúng tôi, đa số đều lớn tuổi, chỉ có tôi là phụ nữa và Lâm là ít tuổi nhất. Lâm năm nay mới mười tám. Chú ta bao giờ cũng có thể làm người khác cười được.

    Tiểu đội chúng tôi được mang tên Tám Sơn, người con anh hùng của Phú Yên. Tám Sơn tên thật là Huỳnh Ngọc Anh, quê ở Tuy Hòa. Trong một chuyến đi công tác, Tám Sơn bị bọn phản động bắt được. Chúng đem anh về xã Hòa Tâm, quê anh. Chúng tập trung dân làng lại và treo anh lên để tra khảo. Trước họng súng đã lên cò, trước lưỡi lê gậy gộc của quân thù, trước bà con thân yêu trong đó có mẹ anh, anh đã ngang nhiên đập vào mặt kẻ thù.

    - Tao đấy à! Đấy, chính cái chỗ bay đứng đấy là nơi tao sinh ra. Những người đứng quanh đây là nhân dân nuôi tao. Chính bay mới là kẻ phản dân hại nước. Bay giết người không ghê tay, cướp của đốt nhà, hiếp cả trẻ em. Bay hỏi tao về đây làm gì? - Đến đây, Tám Sơn nghiến răng, mắt long lên - Tao về để giết chúng bay, đuổi bọn Mỹ ra khỏi đất nước. Bay hù tao à? Tao không sợ chết đâu. Mà chúng tao sẽ không bao giờ chết, dân Phú Yên, dân Việt Nam sẽ chôn bay xuống bùn…

    Bọn giặc không để Tám Sơn nói nữa. Chúng bịt miệng, bịt mắt Tám Sơn rồi vội vàng bỏ lên ô tô đưa đi mất tích. Tám Sơn không còn, nhưng tên tuổi anh còn sống mãi. Tiểu đội chúng tôi được mang tên Tám Sơn, vinh dự đó khiến cho tất cả chúng tôi đều tăm thêm ý chí quyết sống chết làm tròn nhiệm vụ.

    Sáng hôm ấy, trời còn sớm lắm, nhưng tiểu đội chúng tôi đã dàn ở vị trí chiến đấu. Tôi nằm vào công sự với bao lo âu, suy nghĩ. Phía trước là bãi lầy chạy dài đến cuối làng. Bên phải là dòng sông Đà Rằng thân yêu; xa hơn về phía mặt trời mọc là Tuy Hòa âm u. Trên đường số 7 ngoằn ngoèo, từng đàn xe tăng giặc - như những đàn bọ hung, đang ru rú bò về phía chúng tôi. Sẽ thế nào đây? 12 con người nhỏ bé này sẽ chống cự như thế nào với cả tiểu đoàn của chúng? Dường như đoán biết được sự lo lắng của tôi, nên Lâm đã trêu tôi:

    - Bà chị ơi, lo gì thế? Nè, một bà chị cũng đã bằng một đại đội của chúng rồi. Không khéo lại không còn gì cho tụi này nữa đâu nghe.

    Khi từng đàn mũ sắt lốc ngốc bò lên chân đồi, khi những con cú sắt rít trên đầu, thì tôi thấy đồng đội cằm ai cũng bạnh ra, mắt rực lửa căm thù. Tôi cũng xốc túi thuốc lại cho gọn gàng và nâng khẩu các-bin lên; loại “tiểu liên phụ nữa” ấy nhẹ và bắn dễ dàng trúng đích. Đó là loại súng các-bin cướp được của giặc, nó nhẹ nên các anh dành riêng cho chị em chúng tôi và gọi là tiểu liên phụ nữ.

    Khi nghe rõ tiếng xì xào của giặc, ngực tôi phập phồng vì hồi hộp. Tôi tưởng mình không thể bắn được. Thế nhưng nòng súng tôi vẫn di động theo những cái mũ sắt lốc ngốc. Tôi hồi hộp chờ lệnh để bóp cò. Địch tiến gần hơn, rất gần. Vừa tầm bắn lắm rồi mà vẫn chưa có lệnh. Tôi liếc mắt nhìn Lâm, thì cũng vừa lúc Lâm khẽ gật đầu:

    - Tổ ta được lệnh phát hỏa, bắn!

    Tôi nín thở, tin tưởng bóp cò. Pằng, pằng, pằng, pằng… khẩu các-bin giật rung trên tay tôi. Trước tầm ruồi súng tôi, một thằng giặc, hai thằng giặc… ngã xuống.

    Bị chặn bắn bất ngờ, bọn giặc bò lăn, bò càng xuống dốc. Và không biết cơ man nào là đạn, chúng trút về phía chúng tôi, đủ cả tiểu liên, trung liên và cả đại bác nữa. Trong phút chốc, chúng tôi ngập trong khói bụi của bom đạn. Giặc lại tiến lên. Lần này thì chúng đi thành toán bảy, tám thằng. Chúng bò rất thận trọng.

    - Chuẩn bị lựu đạn! - Lệnh của tiểu đội trưởng. Tôi rút chốt an toàn quả lựu đạn mỏ vịt và nín thở theo dõi quân thù. Qua kẽ hở của hai tảng đá, tôi nhìn rõ một thằng Mỹ đang mang một khẩu súng máy đến đặt ở một gốc cây. Vừa tầm, rất vừa tầm ném.

    - Lựu đạn, ném! - Tiếng anh Tâm thét lên.

    Một loạt lựu đạn tung ra. Tôi lúng túng giây phút, rồi chồm dậy vung tay ném ngay vào hông thằng Mỹ. Sau những tiếng nổ xé trời của lựu đạn, chú Lâm nằm bên cạnh, nhìn thấy cảnh thằng Mỹ và khẩu súng máy tan xác, reo lên:

    - Chị Hảo ném trúng lắm.

    Đạn giặc lại tới tấp trút về phía chúng tôi. Bỗng lúc đó, từ phía trái, Dũng gọi tôi:

    - Hảo, anh Khuê bị thương!

    Khuê bị mảnh đạn phớt cả một mảng da trán. Nhìn máu Khuê đang chảy, tôi tưởng như ruột mình đang đứt ra từng khúc. Máu Khuê chảy ướt hết cả vai áo. Tôi băng chưa xong thì anh đã gạt phắt tay tôi ra, rồi vẫn bình tình bắn tỉa toán giặc đang tấn công. Diệt xong một mũi tấn công anh mới chịu để cho tôi băng tiếp. Bỗng nhiên tôi thấy lo lo: Nếu như có đồng chí hy sinh thì như thế nào? Tôi rùng mình. Phụ nữ chúng tôi vẫn có những cái rùng mình không đâu vào đâu như thế.

    Sau hơn một tiếng đồng hồ xông xáo vô hiệu quả, bọn địch rút xuống chân đồi. Tiểu đội trưởng chúng tôi liền tranh thủ thời gian, mở một cuộc hội ‎ý chớp nhoáng. Anh nói:

    - Lực lượng của chúng còn rất mạnh. Nhiệm vụ của chúng ta còn phải kéo dài. Chúng ta phải triệt để tiết kiệm đạn, mỗi viên đạn lúc này phải đối lấy ít nhất là một quân thù.

    Tiểu đội phó cũng nói:

    - Tình hình sẽ còn gặp nhiều khó khăn. Tôi đề nghị cô Hảo không trực tiếp chiến đấu nữa mà chỉ làm công tác cứu thương.

    Ý kiến này làm tôi bối rối, và không suy nghĩ lâu, tôi phát biểu luôn:

    - Tôi thấy hiện giờ ta có ít, mà địch thì đông, tại sao ta lại phải bớt tay súng đi? Tôi có thể vừa chiến đấu vừa đảm bảo được nhiệm vụ cứu thương…

    Giữa lúc đó, đại bác của địch lại nã lên và địch lại bắt đầu tấn công nữa. Anh em trở về vị trí và tạm gác việc của tôi lại. Thế là tôi vẫn được tiếp tục cầm súng.

    *

    * *
    Giặc tiến lên và bị chúng tôi đánh bật trở xuống. Trận địa của chúng tôi vẫn đứng vững như thế suốt hơn bốn tiếng đồng hồ liền. Phía dưới chân đồi, xác giặc nằm ngổn ngang nhưng bên phía tiểu đội chúng tôi, anh em cũng bị thương nhiều hơn, bắt buộc tôi phải thỉnh thoảng cũng phải tạm ngừng chiến đấu. Tuy nhiên, hễ băng bó xong là tôi lập tức trở về vị trí và tiếp tục nổ súng. Tôi đã biết các kiềm chế mình để bắn từng viên một. Một đợt chiến đấu gần kết thúc, tôi nằm trong hố chiến đấu và theo dõi một toán giặc đi phục phía hông. Có đến sáu bảy tên nhưng thằng nào mặt cũng còn trẻ măng. Có một thằng da đỏ như gà cồ thiến, ngực để hở lông lá trông đến kinh. Chúng nó rón ra rón rén như lũ ăn cắp đêm. Các không đầy 20 thước, tôi không chịu được nữa. Tôi nhắm nay thằng gà cồ thiến bóp cò. Khẩu các-bin nảy nảy trong tay tôi. Cả bọn chúng nó liền lăn vào rừng, để lại thằng quỷ da đỏ lăn lộn kêu la nghe rợn cả óc.

    Luôn tám đợt tấn công của giặc đều bị bẻ gẫy. Nhưng nguy quá, chúng tôi sắp hết đạn và lựu đạn. Toàn tiểu đội lại tranh thủ hội ‎ý. Quyết định phải hết sức tiết kiệm đạn và tìm cách vượt qua vòng vây của địch với yêu cầu an toàn cao nhất.

    Một đợt tấn công nữa của địch bắt đầu. Lần này địch bắn rất rát. Mấy chiếc máy bay ném bom quần lượn lách tìm mục tiêu, chúng trút bom gần ngay chiến hào. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được chứng kiến cảnh “khói lửa mịt mù” ấy. Đại bác, trung liên, tiểu liên, không thiếu món nào. Nhiều hơn cả là đại liên. Bụi mịt mù đến nỗi không còn thấy đồng đội bên cạnh. Tuy vậy, địch vẫn không tiến thêm được bước nào; cứ có bóng tên nào ngấp nghé là chúng tôi nổ súng, hất nó lộn ngược xuống. Bỗng nhiên chúng hô xung phong, và như một đàn dê, chúng ùa xông lên. Nhưng rồi tất cả cũng bị chúng tôi đánh bật xuống. Một toán địch lại tiến lên, lần này chúng bò sát đất. Chúng tôi liền chúc nòng súng sát đất và kiềm bắn từng thằng… Giữa lúc tôi đang di chuyển sang vị trí khác thì tự nhiên một bên chân như bị phong rút bắt tôi quỵ xuống. Xem lại thì cả một chân tôi thấm đầy máu. Ống quần dài của tôi bị đạn xé rách và một bên chân như bị dần nát. Tuy là cứu thương nhưng tôi biết mình bất lực trước vết thương ấy. Trong tiếng rít của bom đạn, tôi nghe rõ tiếng các anh gọi nhau báo tin tôi bị thương và bảo nhau bắn yểm hộ cho tôi.

    Một sức mạnh vô biên kéo tôi dậy, tôi cặp súng, cố lết đến vị trí mới và tôi lại bắn. Dưới chân tôi, máu vẫn chảy đầm đìa. Chúng tôi lại đánh bật địch trở xuống. Đạn giặc bắn lên càng dữ dội. Lâm và anh Tâm bò đến giúp tôi băng vết thương. Ngay sau đó, giặc lại tấn công. Từ giờ phút này, anh Tâm tiểu đội trưởng không rời xa tôi nữa.

    Anh Tâm bắn rất dè sẻn, dường như anh chỉ bắn từng viên một. Tôi nhìn lại súng của mình, thấy cũng chỉ còn vẻn vẹn có hơn một băng đạn. Làm sao bây giờ? Tiểu đội còn phải vượt khỏi vòng vây. Tôi có thể chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, nhưng với một bên chân bị dập nát, tôi sẽ là một gánh nặng cho tiểu đội. Hy sinh? - Tôi nhắm mắt lại, rùng mình. Nhưng trong một giây nhắm mắt ấy, tôi lại thấy hình ảnh Tám Sơn nghiến răng chửi vào mặt kẻ thù. Người tôi nóng ran lên. Tôi khẽ gọi tiểu đội trưởng:

    - Anh Tâm!

    - Sao đó, cố gắng Hảo nhé!

    - Không sao anh Tâm ạ. Đề nghị anh, đề nghị đồng chí - tự nhiên tôi thấy mình lớn lên, tôi nghiêm nghị - Đề nghị đồng chí cho tôi ở lại chiến đấu cầm cự với giặc, để yểm hộ cho tiểu đội rút lui.

    Tôi nói xong, thấy lòng mình nhẹ nhõm. Lê Tâm chớp mắt rồi nhíu trán. Anh trả lời với một giọng trìu mến nhưng kiên quyết:

    - Không được, chúng tôi còn thì đồng chí còn. Đồng chí sẽ cùng rút lui với tiểu đội.

    Nói xong, Lê Tâm lại chăm chú theo dõi địch. Lời nói của Lê Tâm làm tôi nhớ đến Tám Sơn. Tám Sơn đã nói với quân thù: “Tao chết, dân Phú Yên của chúng tao sẽ chôn vùi bay”. Đúng, phải sống! Sống để thực hiện lời dặn của người đã khuất!

    Địch lại mở một đợt xung phong mới, cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.

    - Tất cả chuẩn bị gọn gàng! - Lê Tâm ra lệnh.

    Theo lệnh của tiểu đội trưởng, chúng tôi không bắn, cũng không ném lựu đạn nữa. Địch tưởng bở, nghĩ rằng chúng tôi đã chết cả dưới trận mưa đạn và bom. (Về sau báo của chúng đăng tin: chúng đã “tiêu diệt một tiểu đoàn Việt cộng”). Thế là chúng gào lên:

    - Xung phong!

    Chúng ồ ạt tiến lên ở tất cả các mặt, làm thành một hàng rào bao quanh chúng tôi. Chúng tôi vẫn im lặng. Tất cả đều nhìn về phía Lê Tâm chờ lệnh…

    Một trăm hai mươi thước, một trăm thước. Địch tiến ngày càng gần. Tiểu đội trưởng Lê Tâm ra lệnh: “Chuẩn bị xung phong”. Tôi bối rối. Xung phong? Tôi sẽ xung phong như thế nào? Địch đã bắt đầu bắn. Chúng vừa bắn vừa tiến sát về phía chúng tôi. Còn 50 thước, 30 thước, rồi 20 thước… Bỗng nhiên tiểu đội trưởng Lê Tâm rướn người lên, gào rất ro:

    - Tất cả xung… pho… ong…

    Một loạt lựu đạn của chúng tôi ném chát vào mặt quân thù. Tôi đang lúng túng chưa biết phải làm gì nữa sau khi ném trái lựu đạn cuối cùng ấy thì nhanh như chớp, Lê Tâm đã hất người tôi lên lưng anh. Và mạnh như một con hổ - anh xông lên cùng đồng đội đánh xáp lá cà với địch.

    Thật là bất ngờ. Bọn giặc hốt hoảng tháo lui và kêu la ỏm tỏi. Thừa thế cuộc đó, Lê Tâm dẫn toàn tiểu đội tập trung những viên đạn còn lại bắn rát vào một chỗ, mở một mũi nhọn, chọc thủng chỗ yếu của đội hình giặc và thẳng đường tiến luôn vào trong rừng.

    Sau đó, tôi chẳng còn biết gì nữa cả. Tôi đã ngất đi trên lưng Lê Tâm. Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đang nằm trên môt cái cáng bằng vải dù. Anh em đồng đội còn đủ cả và đang ngồi quanh tôi. Trời tối, nhưng nhờ có trăng nên tôi vẫn nhìn được mặt tất cả. Mọi người cười reo lên khi thấy tôi tỉnh lại.

    - Hảo, cố gắng nghe em! - Anh Tâm trìu mến động viên tôi.

    - Bà chị tôi không nỡ lòng bỏ thằng em này lại thế gian. - Lâm lại đùa.

    Câu nói của Lâm nhắc tôi nhớ đến nhiệm vụ của mình. Tội bật ngồi dậy và nhìn anh em khắp lượt.

    - Cô yên tâm, anh em còn đủ cả. - Tiểu đội trưởng an ủi tôi.

    - Chỉ có hai anh bị thương ở tay. Em đã thay chị băng cho các anh ấy rồi. - Lâm tiếp lời anh Tâm và nói luôn - nhưng tất cả đều khỏe như vâm. Chỉ tội cái bao tử nó biểu tình.

    Cả đội đều cười vui vẻ.

    Anh Tâm nói với cả tiểu đội.

    - Các đồng chí, thế là qua một ngày rồi. Chúng ta đã 18 lần phản công địch và đã làm tròn nhiệm vụ trên giao cho. Nhưng… - Anh lại dõng dạc nói tiếp - Bây giờ chúng ta vẫn còn trong vòng phong toả của giặc. Chúng ta phải cố gắng thêm nữa để thoát ra khỏi vùng này. Như vậy là phải đi ngay. Chúng ta sẽ đi về hướng Tây Bắc- đi hướng ấy có xa nhưng an toàn…

    Anh chưa dứt lời, anh em đã đồng tâm:

    - Đi!

    - Phải đi ngay thôi.

    Tôi nghĩ thầm, mình phải đứng dậy, phải cố đi, giảm bớt khó khăn cho các anh. Nhưng, chỉ cựa nhẹ một tí tôi đã thấy đau buốt tận óc và đành để cho các anh cáng đi.

    Chiều hôm đó - buổi chiều của ngày thứ hai sau khi vượt vòng phong tỏa - chúng tôi dừng chân tại môt khu rừng già. Anh em được một giờ nghỉ dưỡng sức. Tội quá, trông người nào cũng phờ phạc. Chúng tôi đã đi suốt đêm trong rừng và luôn cả buổi sáng nay.

    Ngủ dậy, anh em chia tay nhau mỗi người một ngả đi đào khoai, và tìm nước uống. Sau hơn một giờ đồng hồ anh em trở về. Thôi thì đủ cả. Người thì túm khoai khai, người được mấy củ khoai mài núi. Chú Lâm thì vừa mang nước vừa mang khoai lại thêm hai túi quần đựng đầy ổi.

    Anh em đang nhen lửa nướng khoai, chia ổi thì anh Tâm về, tay xách một tổ ong mật to tướng, trái ké bóng những mật là mật. Anh quyết định dành riêng mật ong cho tôi và mấy đồng chí bị thương. Tôi thấy mình sống lại những ngày thơ ấu được mẹ chăm sóc từng ly từng tí. Tôi từ chối:

    - Không, em không ăn đâu! Các anh ăn để đủ sức mà về đơn vị. Vả lại còn phải khiêng em nữa.

    - Chúng tôi có khoai rồi.

    - Hảo ăn đi.

    Kẻ nói qua, người nói lại. Cuối cùng vẫn phải giải quyết theo ý kiến đầu tiên của anh Tâm. Một phần mật ong được dùng để boi vào vết thương, chống nhiễm trùng.

    *

    * *​

    Chúng tôi ngày đi đêm nghỉ và đã ngủ lại trong rừng như thế luôn trong năm đêm liên tiếp. Rừng lại nhiều cọp nên chỗ nào cũng phải nhen lửa lên và thay nhau canh gác. Tất nhiên, những người bị thương chúng tôi không được chia phiên gác. Tôi cố xin mãi mà không được. Khuya hôm đó tôi quyết định thức dậy - phải nói đánh thức mới đúng, vì cứ nằm xuống là như muốn thiếp đi. Tôi vừa ngồi dậy thì Lâm đã vội vàng bước đến. Lâm nói rất khẽ vào tai tôi:

    - Em lạy chị, chị ngủ đi.

    Tôi khoa tay bảo Lâm im và nói khẽ (phải nói khẽ vì sợ anh em thức giấc):

    - Nè, Lâm có thương chị không?

    - Chị thì cứ…

    - Thế Lâm ngồi xuống đây.

    - Nhưng chị phải ngủ đi.

    - Ừ! Thì ngồi xuống đây đã.

    Lâm ngồi xuống bên cạnh tôi. Dưới ánh lửa bập bùng, tôi nhìn rõ khuôn mặt ngây thơ của Lâm đã bị gian khổ cuộc chiến làm già hẳn đi, hai gò má nhô lên hốc hác và đôi mắt thụt sâu vì mất ngủ. Nhưng đôi mắt đen long lanh và nụ cười rất vui của Lâm vẫn không lúc nào mất.

    - Em ngủ đi, chị gác cho. - Tôi bảo Lâm.

    - Thôi em lạy chị, chị đừng bắt em phạm kỷ luật.

    - Kỷ luật gì?

    - Không thi hành đúng quy định của tiểu đội. - Lâm nghiêm nghị - Thôi xin đồng chí đi ngủ đi cho!

    - Lâm biết không? Cả ngày em và các anh ấy phải băng rừng, lội suối, phải đi đào khoai, lấy nước, lại phải khiêng chị. Chị không đi được chứ mắt chị có mù đâu, tay chị có cụt đâu. Để chị gác cho.

    - Em lạy chị.

    Thế là hai chị em chúng tôi không ai chịu ngủ, cứ ngồi nói chuyện cho đến khi đồng chí Dũng thức giấc đổi gác mới thôi. Lâm kể cho tôi nghe về quê mình. Lâm ở một xã ven biển, có nhiều dừa, nhiều cá. Lâm mồ chôi mẹ từ khi mới lên sáu. Cha Lâm, khi hòa bình lập lại, bị bọn Mỹ Diệm bắt đi biệt tích. Lâm ở nhà với vợ chồng người anh cả. Khi luật phát-xít 10-59 ra đời, quê Lâm tổ chức “tố cộng” ráo riết, ai yêu nước đều bị coi là Việt cộng hết. Trước tình hình căng thẳng đó, người anh của Lâm phải cùng những người yêu nước vào rừng lập căn cứ bí mật. Hai tháng sau, Lâm cũng bị liệt vào danh sách “Việt cộng con”. Chú cũng đi theo các anh, lúc đó mới mười sáu tuổi. Lúc đầu chú không biết là đi bộ đội, chỉ biết đi tìm du kích… Rồi chú bắt tôi kể chuyện miền Bắc cho chú ấy nghe (chả là lúc làm việc ở bệnh xá giải phóng, tôi thường được nghe tin tức miền Bắc qua đài phát thanh). Tôi kể cho chú nghe chuyện miền Bắc cứu sống chị Trần Thị L‎ý. Lâm tỏ ra rất cảm động khi nghe chuyện đồng chí Nguyễn Văn Hiếu gặp Bác Hồ - ngày đó Bác đã chỉ vào tim mình và nói: “Miền Nam ở trong tim tôi”.

    Bây giờ, Lâm đã ngủ say rồi. Nhưng biết đâu sáng mai ngủ dậy, chú ta lại chẳng khoe với tôi như mọi lần:

    - Chị ạ, đêm hôm qua em được gặp Bác Hồ.

    Sau mấy ngày băng rừng vượt núi, đến ngày thứ sáu, có hai đồng chí nữa lên cơn sốt. Sốt nặng lắm, sờ vào trán đã thấy nóng bừng cả tay. Thế mà hai anh ấy cứ luôn miệng:

    - Không sao, không sao!

    Không sao, nhưng từng lúc hai anh lại lên cơ mê sảng. Thuốc sốt đã hết, làm sao bây giờ? Suy nghĩ mãi, tôi mới nhớ tới dây “Vú bò”, món thuốc nam của cụ Tá bày cho ngày ở Sơn Hòa. Rừng rậm này chắc là có nó - nhưng hỏi anh em thì chả ai biết vì cái tên dây “vú bò” cũng không thông dụng lắm. Tôi muốn bò đi tìm, nhưng chân tôi đã sưng lên và dường như nặng thêm gấp bốn, năm lần, chạm đến là đau buốt. Làm sao đây? Nhìn hai đồng đội trong cơn mê sảng, tôi không thể sợ đâu được nữa. Chờ cho anh em ngủ trưa, tôi quyết định bò vào rừng. Tôi bò bằng hai tay và một chân còn lành. Chân kia cứ kéo lê, nhức vô kể. Tôi phải nghiến chặt răng lại để bò. Đôi lúc mệt quá, tôi nằm lịm ra một hồi. Tôi bò hết bụi rậm này đến cồn mối kia mới thấy được bụi dây vú bò, nó quấn với dây giang. Tôi mừng quá đến quên cả đau đớn, trườn lên bứt mau. Bỗng thình lình, từ phía sau một tiếng reo gần như thét lên làm tôi giật nảy mình:

    - Chị Hảo!

    Thì ra Lâm đi tìm rôi. Gặp tôi, chú trách luôn:

    - Chị định bứt dây tự tử đấy à? Chị thật tệ, đi mà không báo cho ai lấy một tiếng. Chị rủ em đi cùng có tốt hơn không?

    Thì ra cả tiểu đội thấy mất tôi, người thì sợ tôi tủi thân đi tự tử, người thì nghi bị cọp tha. Thế là tất cả bủa nhau đi tìm. Cả hai đồng chí bị sốt cũng vùng dậy chống gậy đi tìm tôi.

    *

    * *​

    Dây vú bò rất hay. Chỉ uống một chén, hai đồng chí ấy đã dứt cơn sốt. Và chúng tôi lại đi. Hôm nay đã là ngày thứ bảy.

    Tình cờ, tổ trinh sát đi trước phát hiện nơi trú quân của một toán biệt kích của Mỹ ở ngay giữa rừng. Chắc là chúng vừa nhảy dù xuống. Cả tiểu đội bàn nhau bao vậy bắt gọn. Chúng tôi biết rằng bọn này tuy đã được huấn luyện và trang bị vũ khí khá đặc biệt, nhưng căn bản là chúng thiếu tinh thần chiến đấu. Tiểu đội để tôi ở lại trong một hốc đá. Ngồi trong hốc đá, tôi chỉ biết lắng tai nghe. Sau khoảng ba mươi phút chờ đợi, tôi nghe nhiều loạt súng nổ, rồi im bặt và mười mấy phút sau anh em đã trở về. Lâm chạy hộc tốc đến đặt trước mặt tôi một cây tiểu liên còn mới toanh và mấy hòm bánh quy rồi vừa thở hổn hển vừa nói:

    - Đây, chiến lợi phẩm. Phần này dành cho chị đây.

    Nhờ trận tập kích ấy, tiểu đội chúng tôi đã có đủ lương thực và cả thuốc men để tiếp tục những ngày tìm đường về đơn vị và có thêm vũ khí để có thể nã vào đầu bọn giặc những đòn nhừ tử khác. Chúng tôi lại ra đi, lần này anh em phấn khởi hơn, nhất là chú Lâm. Chú ta cứ hát luôn mồm, hết “Hành quân xa dẫu muôn ngàn gian khổ” lại “Giải phóng miền Nam… đánh tan bè lũ bán nước…”. Tôi uống một liều trụ sinh vừa lấy của biệt kích nên chân bớt đau.

    *​

    * *​

    Chúng tôi đã đi ròng rã mười lăm ngày trong rừng. Đến ngày thứ bảy, vết thương của tôi không sưng tấy nữa. Tôi đã chống gậy, vịn vai đồng đội đi được. Trong mười lăm ngày đêm màn trời chiếu đất đó, biết bao nhiêu câu chuyện đáng ghi, đáng nhớ đến với chúng tôi. Nhưng xúc động hơn cả vẫn là câu chuyện của ngày cuối cùng.

    Chiều hôm đó, nắng đẹp, đẹp lắm! Chúng tôi đi giữa một thung lũng hoàn toàn giải phóng của Phú Yên thân yêu của tôi. Cây cối ở đó xanh tươi hơn ở các nơi khác vì chưa bị bọn Mỹ rải chất độc hóa học. Chim muông như cũng tự do hơn nên cây nào cũng líu lo tiếng chim ca hát. Khi con đường mòn và những đồi núi quen thuộc hiện ra trước mắt thì ai cũng reo lên:

    - Sắp về đến đơn vị rồi.

    Lâm đưa hai tay lên miệng hú một tiếng dài như muốn báo tin cho những người thân biết mình sắp về và cũng như để làm vợi bớt những gì đang cồn cào trong ruột chú ta. Chú ta vượt lên trước, tung tăng như một con thỏ. Lâm lúc này như một bú bé lâu ngày được về lại quê hương hơn là một chiến sĩ trở về đơn vị sau thời gian xa vắng. Còn một cái dốc nữa là đến đơn vị. Bỗng Lâm dừng lại. Chú ta đứng lặng lại trước một nấm mồ mới đắp bên cạnh một đài liệt sĩ ghép bằng bẹ chuối xanh đã ngả màu. Xung quanh đấy, hàng chục vòng hoa, đủ các loại hoa rừng, có vòng đã héo úa, có vòng còn tươi rói. Ai, ai đã hy sinh? Lòng chúng tôi bồn chồn lo âu, hồi hộp. Biết đâu trong 16 ngày qua, địch đã tấn công vào vùng này và thêm một số đồng đội thân thiết của chúng tôi đã ngã xuống!

    Chúng tôi vây quanh nấm mồ và tự nhiên không ai bảo ai, cả mười hai người đều lặng đi. Trước mắt tôi, một dòng chữ nắn nót ghi trên đài liệt sĩ:

    “Tổ quốc ghi công:

    Tiểu đội Tám Sơn anh dũng kiên cường”.

    - Thế là thế nào? Đơn vị làm lễ truy điệu chúng tôi rồi ư?

    - Không! - Tiểu đội trưởng Lê Tâm dõng dạc nói. Anh ấy bao giờ cũng thế.

    - Không, tiểu đội Tám Sơn không chết! Chúng mình vẫn sống và cả Tám Sơn nữa, Tám Sơn cũng đang sống, đang ngày đêm đi với chúng mình. Đài liệt sĩ này, những vòng hoa này, những lời viếng chúc này, chúng ta hãy dành nó cho những người anh, người chị, những người đồng chí của chúng ta đã kiên cường và vô cùng anh dũng hy sinh. Những người ấy cũng như Tám Sơn sẽ không bao giờ chết và sẽ mãi mãi ở bên chúng ta, cùng chúng ta chiến đấu để giải phóng Phú Yên, giải phóng miền Nam.

    Tôi phải bíu vào Lâm mới đứng vững. Chúng tôi dành mấy phút mặc niệm các đồng chí đã khuất.

    Tôi lẩm bẩm:

    - Các đồng chí, có chúng tôi! Chúng tôi đang chiến đấu theo bước đi của các đồng chí.

    1965
     
    Chỉnh sửa cuối: 7/7/19
    Diên VĩPanh thích điều này.
  8. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100


    Bằng bất cứ giá nào

    Trời đã xế chiều, gió nồm từ ngoài khơi thổi vào như giục giã.

    Châu mím chặt môi rồi khẽ thở ra:

    - Mẹ kiếp, cứ thế này thì biết bao giờ mới vượt lộ được.

    Trên mặt trận, bọn lính gác vẫn đi đi lại lại. Mũi súng của chúng như con chó béc-giê, cứ đánh thấy hơi lạ là sủa òm lên. Chúng cứ bắn vu vơ mãi. Châu lại cắn chặt môi liếc nhìn Vinh nằm cạnh - cặp mắt em trừng lên đanh thép. Trán, lưng em ướt đẫm mồ hôi. Trong phút chốc Châu nhớ lại tất cả… Mới thôi, mới sáng hôm nay, tại sở chỉ huy, bác chỉ huy trưởng vừa thân mật vừa nghiêm trang trao nhiệm vụ cho hai em:

    - Hai cháu à, có một việc rất khẩn cấp và cũng rất nguy hiểm cần đến hai cháu. Mười hai giờ đêm hôm nay, bọn giặc sẽ đem năm chiến sĩ của ta ra bắn tại gò Ma… Chúng ta không thể để các chú ấy chết được. Phải không hai cháu? Vì thế nên, bác giao cho hai cháu nhiệm vụ trước tám giờ tối nay, hai cháu chuyển đến cơ sở của ta dưới ấy mệnh lệnh như sau:

    “Khu ra lệnh phải giải thoát cho năm đồng chí đó với bằng bất kì giá nào” - Hai cháu có hiểu không?

    - Dạ rõ! - Cả hai cùng đáp. Sau đó Châu dõng dạc tiếp:

    - Thưa bác chúng cháu cũng sẽ chuyển lệnh này đến cơ sở với bằng bất kỳ giá nào.

    - Đúng! Nhưng nhớ cẩn thận, thắng lợi và an toàn. Bác tin ở hai cháu!

    Rồi thân mật bác ôm hôn hai chiến sĩ tí hon của mình, và nhắc lại:

    - Cẩn thận cháu nghe! Cẩn thận cháu nghe!

    Ngay sau đó, hai em đã lội suối, vượt đèo trở về vùng địch. Hai em bò đến chỗ con lộ này từ khi mặt trời chưa đứng bóng và đành phải nằm dưới lùm cây dại mọc sum suê bên bờ lộ.

    Không có cách nào hơn sao? Cả Vinh và Châu ruột gan đều cồn cào. Còn non chục cây số nữa mà trời thì đã xế chiều. Cứ nằm đây mãi thì biết bao giờ mới qua được.

    - Không khéo chậm mất Châu ạ! - Vinh nhắc khẽ,

    - Ừ! - Châu gật đầu bực tức - Trước mắt em lại hiện lên hình ảnh năm người chú, người bác, người anh, người chị đang lần lượt ngã xuống trước mũi súng quân thù… Long em thắt lại quặn đau.

    - Phải đổi bằng bất kì giá nào. - Câu nhắc lại rất khẽ của Vinh càng thôi thúc Châu. - Em là tổ trưởng, em chịu trách nhiệm trước bác chỉ huy trưởng, bây giờ em và cả Vinh nữa đang mang sứ mệnh sống còn của năm chiến sĩ…

    - Phải đổi bằng bất kì giá nào. - Châu khẽ nhắc lại, mắt em ánh lên như một ngôi sao trong đêm tối. Em kéo sát bạn về mình:

    - Mình nghĩ ra rồi! Bây giờ thế này, mình sẽ bò men theo bờ ruộng này, đến chỗ kia rồi giả vờ chạy tủng tỉnh lên chiến khu. Thế nào bọn giặc cũng đuổi theo để bắt. Vinh sẽ lợi dụng thời cơ ấy mà vượt lộ, nghe chưa?

    - Ừ! Nhưng mà nguy hiểm lắm

    - Nguy hiểm! - Châu khẽ nhắc lại, mắt em vẫn không rời con lộ. - Vinh ạ, không còn cách nào hơn.

    - Thể thì để mình đi cho. - Vinh giành phần nguy hiểm về mình.

    - Không được ! - Châu ấn bạn nằm xuống và nói - Đây là mệnh lệnh. Vinh hãy đem khẩu lệnh tới nơi với bằng bất bì giá nào, nghe chưa? - Rồi dịu dàng, Châu nói:

    - Cứ yên tâm, “thỏ” ạ! Thôi chuẩn bị đi, sẽ gặp lại ở chiến khu.

    Không đợi Vinh trả lời, Châu lập tức rời vị trí.

    - Trời ơi! - Vinh khẽ rít lên. Em thấy người run bần bật. Em run vì cảm động, run vì nguy hiểm sắp ập tới với Châu… Em suy nghĩ miên man… Nhưng ‎ ý nghĩ Vinh bị cắt đứt vì Châu đã đứng dậy, Châu chạy khom khom về phía chân núi.

    Quả đúng như dự tính. Bón lính gác nhìn thấy, chúng vừa huýt còi vừa bắn chỉ thiên và gào thét ầm ĩ:

    - Đứng lại!

    - Ê, đứng lại.

    Và như một đàn chó săn thấy mồi, chúng dồn thành một bầy đuổi theo Châu. Vinh không bỏ qua phút giây thuận lợi. Như một chú thỏ, em vượt qua lộ và em chạy với cả sức mình trong rừng cây cằn cỗi. Có lúc em chạy qua cả những vũng bùn lầy… Phía sau, chỗ Châu, súng giặc đang nổ dòn bỗng dưng ngưng hẳn, Châu bị bắt chăng? Hay Châu bị trúng đạn… Không! Châu sẽ về, sẽ gặp lại ở chiến khu. Vinh tin thế và em chạy càng nhanh hơn.

    *

    * *

    Ngay đêm hôm đó, cùng với du kích, Vinh đã đưa được năm chiến sĩ cách mạng về tới chiến khu. Thế nhưng Châu, người đồng đội của em không về nữa.

    Bác chỉ huy trưởng sau khi nghe Vinh kể lại đã lau khô nước mắt nói:

    - Cháu không về được nữa Châu ạ. Nhưng linh hồn cháu sẽ mãi mãi về bên các bác, các chú và các bạn của cháu.

    Hà Nội, 1963.



     
    Chỉnh sửa cuối: 7/7/19
    Diên VĩPanh thích điều này.
  9. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    PHẦN 2
    K‎ý

    Nghĩa tình Phú Yên
    (Viết về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với Phú Yên)​

    Tháng 9 năm 1969, Hà Nội mưa, buồn trước sự ra đi đột ngột của Bác Hồ. Chiều 5 tháng 9 năm 1969, đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam về thọ tang Bác đến Hà Nội bằng một chuyến máy bay của nước bạn. Chúng tôi, những cán bộ của Ban CP40, một ban chuyên trách công tác miền Nam trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng được phân công tháp tùng Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh ra sân bay đón đoàn Luật sư do Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ dẫn đầu. Tôi được gặp luật sư từ giờ phút đó… Sau lễ tang Bác, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ nghỉ lại tại ngôi nhà 69 Nguyễn Du sát với nhà 71 là khu dành cho các vị trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra nghỉ. Ngày đó, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ vừa là Chủ tịch đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, vừa là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam. Tôi được Ban phân công giúp Chủ tịch phần tiếp xúc với báo chí. Khi biết tôi quê ở Phú Yên và là cháu gọi đồng chí Nguyễn lầu bằng cậu thì Luật sư Nguyễn Hữu Thọ lộ rõ vẻ rất trìu mến(1) . Cũng từ những ngày đó, lúc nào rảnh, Luật sư lại kể với tôi những chuyện ở Phú Yên. Luật sư Chủ tịch đề nghị tôi tìm và mời các chị em Phú Yên mà Luật sư từng quen biết để Luật sư thăm hỏi và mời cơm. Khi đó, vì phải giữ bí mật tuyệt đối, cho nên các cuộc tiếp thường phải bố trí kỹ lưỡng, thường phải đan xen sau mỗi chuyến đi thăm các nước về dừng chân “ở Hà Nội”. Trong số người được Chủ tịch mời có bà Thừa Hoàn Phan Thị Bỉnh, một nhân sĩ quê ở Tuy Hòa, là cơ sở cách mạng đã tham gia ráp nối đợt đầu giải thoát Luật sư ra vùng giải phóng. Một lần khác, Luật sư đề nghị tôi tìm một cô giáo tập kết ra Bắc là con bà Giáo Sáu ở Tuy Hòa. Nhờ bà Thừa Hoàng, tôi biết đó là cô giáo Xuân và từ cơ quan miền Nam, chúng tôi biết cô hiện đang dạy ở Hải Phòng. Luật sư đặc biệt vui khi gặp được anh Nguyễn Phước, con của đồng chí Nguyễn Lầu(2) .

    Mỗi lần Luật sư tiếp những anh chị em Phú Yên quen biết, cũng là dịp những câu chuyện, những hồi ức về những ngày Luật sư ở Phú Yên được nhắc lại. Rất tiếc, hồi đó tôi không ghi lại được tất cả. Hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua, hôm nay viết bài này, những điều còn nhớ được chỉ là những kỷ niệm đã in vào tâm trí.

    (1) Đồng chí Nguyễn Lầu quê ở xã Hòa Kiến, thành phố Tuy Hòa là một trong những cán bộ tập kết trở về Phú Yên đợt đầu, những năm 1960 là Thường vụ Tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng Phú Yên, người tổ chức và chỉ huy cuộc giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ ở Phú Yên (1961), đồng chí đã hy sinh năm 1968.

    (2) Anh Phước sau giải phóng là đại tá chỉ huy Phó Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên phụ trách công tác chính trị.
     
    Chỉnh sửa cuối: 7/7/19
    Diên VĩPanh thích điều này.
  10. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    Nghĩa tình Phú Yên
    (Viết về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với Phú Yên)

    .I.

    Mồng mười tháng ba năm 1993, ngày đầu tiên Luật sư Nguyễn Hữu Thọ về thăm chính thức tỉnh Phú yên sau 34 năm xa cách, đồng chí Nguyễn Duy Luân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy bàn với chúng tôi: Cuộc hành trình trên nửa nghìn cây số ở tuổi 84 chắc chắn Luật sư mệt, nên dành một số giờ để Luật sư nghỉ ngơi trước bữa cơm tối. Cuộc tiếp đón hết sức trọng thể và đầy xúc động kết thúc lúc 16 giờ kém 10 phút. Theo chương trình, 18 giờ sẽ ăn cơm tối và 19 giờ 30 sẽ gặp các đồng chí đã tham gia giải thoát Luật sư năm 1961 mà Luật sư vẫn gọi là ân nhân. Như vậy, Luật sư có hai giờ đồng hồ để nghỉ ngơi. Nhưng, ngay sau khi về tới phòng nghỉ, Luật sư liền gọi tôi lại, Luật sư hỏi:

    - Chú có biết đường đến nhà trọ Vĩnh Đông Á không?

    - Thưa chú, chú cần tìm ai ở Vĩnh Đông Á, để chúng cháu cho mời! - Tôi đáp.

    Từ lâu tôi quen gọi Luật sư bằng chú xưng cháu nhưng Luật sư vẫn gọi tôi thân mật bằng từ “chú” (chú em).

    Luật sư cười và nói: Tôi muốn đi tản bộ thăm thị xã Tuy Hòa và nếu được, chú cho tôi đến nhà trọ Vĩnh Đông Á, nơi tôi ở ngày xưa.

    Tôi thực sự lúng túng, vì Chủ tịch tuổi cao sức yếu, mới đi xa mệt, bây giờ lại đi bộ. Hơn nữa, đây là một chương trình ngoài kế hoạch, các anh lãnh đạo Tỉnh nhà không biết và tôi chưa kịp bàn phương án bảo vệ. Tôi chỉ kịp báo cho đồng chí Thượng tá cận vệ của Chủ tịch và đồng chí Phó văn phòng Tỉnh ủy có mặt tại nhà khác, thì Luật sư đã ra đến đầu cầu thang. Tôi hội ‎ý nhanh với các anh trong bộ phận giúp việc của Luật sư. Anh thư ký riêng của Luật sư nói: “Anh biết rồi, anh Ba đã nói thì khó cản được. Ta cứ đưa anh đi và tất cả chúng ta làm bảo vệ vậy.” Mấy anh em chúng tôi đi với Chủ tịch từ Thành phố Hồ Chí Minh ra gồm nhà báo, bác sĩ, và vài chuyên viên cao cấp, liền đi theo Chủ tịch. Tôi đưa Luật sư ra đường Trần Hưng Đạo, phố chính của Thị xã Tuy Hòa. Chúng tôi đề nghị anh em lái xe cho xe chạy chậm chậm theo chân Chủ tịch. Tôi đã hỏi được đường đến Vĩnh Đông Á, nên nói nhỏ với Luật sư:

    - Từ đây đến Vĩnh Đông Á đến vài cây số, đi bộ sợ mệt, đề nghị chú lên xe đi cho nhanh.

    - Không - Luật sư nói - Về Phú Yên vui, nên tôi khỏe ra, các chú đừng ngại gì về công tác an ninh, đồng bào mình mà. Mít-tơ-răng (Tổng thống Pháp) đến Thành phố Hồ Chí Minh còn đi bộ được nữa là… Hơn nữa, tôi muốn được đi bộ như ngày xưa tôi vẫn đi.

    Nhận ra đường phố cũ, Luật sư nói: “Ngày trước, tôi vẫn đạp xe theo đường này ra biển.” Qua khỏi bưu điện, Luật sư chỉ một con đường nhỏ bên tay trái và hỏi: “Tôi nhớ nhà bà Thừa Hoàng ở đâu phía bên này phải không?”. “Có phải ngày xưa chỗ này là trường Bồ Đề không?” Tôi thưa “phải” và nói với Chủ tịch: “Chỗ này ngày xưa có một con mương nhỏ”. Chủ tịch cười vui: “Đúng, tôi nhớ rồi. Đoạn này có cái cầu, có lần tôi phải dắt xe đạp tránh xe ngựa ở đây. Hồi đó đứng đây thấy núi Nhạn Tháp rõ hơn bây giờ”.

    Chúng tôi đi đến rạp chiếu bóng “HƯNG ĐẠO” - phía trên rạp có băng quảng cáo giới thiệu một phim Việt Nam đang chiếu, phim “Nối lại tình xưa” - Luật sư chỉ tay về phía băng quảng cáo phim, cười vui, xúc động nói với chúng tôi: Chúng tôi cũng đang “Nối lại tình xưa”, Luật sư nói lại: “… đang trở lại tình xưa”. Anh bạn nhà báo đi theo liền hỏi vui Luật sư: “Ngày xưa Bác Ba có mối tình riêng nào ở đây không?” Cả đoàn cười vui, Luật sư cũng cười và bỗng một giây im lặng, Luật sư nói: “Tôi không có tình riêng, nhưng có một tình yêu sâu sắc với Phú Yên, với Tuy Hòa.”

    Cuộc đi bộ được hơn nửa đường thì có thêm mấy nhà báo địa phương. Đồng chí Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh thấy Luật sư đi bộ cũng chạy theo tháp tùng. Xa gần, tôi thấy nhiều cán bộ an ninh, cảnh sát đã triển khai công tác bảo vệ. Một vài người dân Thị xã Tuy Hòa, trong đó có người đã từng quen biết Luật sư cũng vui vẻ nhập đoàn, vừa đi vừa kể chuyện tình xưa. Chúng tôi rẽ vào đường Trần Bình Trọng và tìm đến khách sạn Vĩnh Đông Á trên đường Lê Thánh Tôn. Cuộc gặp rất bất ngờ, không lễ nghi, không bố trí trước đã diễn ra hết sức cảm động. Thật là “trở lại tình xưa” trong cuộc hội ngộ rất đời thường. Chị y tá ở nhà thương thị xã Tuy Hòa ngày xưa, anh con ông chủ quán cà phê cạnh Vĩnh Đông Á nơi ngày xưa Luật sư vẫn uống cà phê sáng còn nhớ tên từng người con của Luật sư. Ông chủ thừa kế Vĩnh Đông Á, anh con trai bà giáo Sáu… bỗng chốc đều có mặt, người già, người trẻ chuyện trò vui vẻ. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ có ‎ý muốn thăm phòng số 1, căn phòng Luật sư ở ngày xưa. Đồng chí cận vệ và tôi cũng vài người nữa lao vào phòng số 1, nguy quá - trong đó, một tốp các cô gái son phấn lòe loẹt, ăn mặc hở hang, đồ đạc luộm thuộm thuê nghỉ trọ đang có mặt, anh cán bộ an ninh địa phương đóng cửa lại nói vớ tôi: “Kẹt quá, toàn gà móng đỏ”. Luật sư đã đến phía sau, tôi đành nói dối Luật sư: “Thưa chú, đúng phòng này… nhưng họ tạm làm kho nên không thăm được.”

    Mấy hôm sau, Tỉnh bố trí đưa Luật sư thăm lại lần nữa Vĩnh Đông Á và phòng số 1 được thu dọn để Chủ tịch vào thăm lại. Gần 6 tháng sau đó, nhân một chuyến đi thăm Phú Yên bị lụt bão về báo cáo, Chủ tịch không quên câu chuyện ở phòng số 1, Người hỏi tôi về chuyện “gà móng đỏ”. Rất thật thà, Luật sư hỏi tôi: “Này chú, ở khách sạn Vĩnh Đông Á người ta nuôi gà móng đỏ là gà gì?” Tôi phải thưa thiệt với Luật sư về hiện tượng xã hội còn một số chị em đi làm “tiếp viên” ở nhà hàng bia ôm - anh em gọi lóng là “gà móng đỏ”.

    Một thoáng buồn trên nét mặt Luật sư. Luật sư hỏi:

    - Ở Phú Yên tệ nạn xã hội có nhiều không?

    - Thưa chú, cháu đi nhiều nơi, thấy tình hình tệ nạn xã hội ở Phú Yên ít hơn các nơi.

    Chủ tịch gật đầu:

    - Mọi người có việc làm và có cuộc sống no đủ thì tệ nạn xã hội sẽ bớt đi. Tuy nhiên, đây là một công tác mà mọi người đều giác ngộ thì mới xóa được.
     
    Chỉnh sửa cuối: 9/7/19
    Diên VĩPanh thích điều này.
  11. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    Nghĩa tình Phú Yên
    (Viết về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với Phú Yên)

    .II.
    Năm 1950, người đảng viên Cộng sản bí mật Nguyễn Hữu Thọ, hoạt động công khai giữa Sài Gòn, đã lãnh đạo cuộc đấu tranh thành công từ phong trào sinh viên mà đỉnh cao là cuộc xuống đường trước sự hy sinh của trò Trần Văn Ơn (ngày 9 tháng 1 năm 1950) và tiếp đó là cuộc xuống đường đấu tranh thắng lợi, buộc 2 tàu chiến Mỹ đầu tiên cặp bến Sài Gòn phải rút chạy (ngày 19 tháng 3 năm 1950). Từ đó ngày 19 tháng 3 trở thành ngày toàn quốc chống đế quốc Mĩ.

    Cay cú trước những thất bại liên tục, kẻ thù đã hai lần bắt Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Lần đầu bắt giam ở Khám lớn, ra tòa không đủ chứng cớ phải cho tại ngoại. Nhưng rồi tháng 6 năm 1950, chúng đày Luật sư lên Mường Tè, một huyện giáp Lào, Trung Quốc của tỉnh Lai Châu. Mãi đến đầu năm 1952, chúng mới đưa về quản thúc ở Sơn Tây rồi Hà Nội và trả tự do vào cuối năm 1952. Trở về Sài Gòn, Luật sư tham gia hoạt động ngay, và đến năm 1954 là lãnh tụ phong trào bảo vệ hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn. Khi phong trào lên cao, kẻ thù lo sợ, liền bắt giam Luật sư lần thứ 3 cũng một số trí thức khác. Sau đó, chúng đưa đi quản thúc ở Hải Phòng. Khi ấy, Hải Phòng còn là khu vực do Pháp quản lí để rút quân. Chúng dự định sau ngày quân Pháp rút hết đương nhiên để Luật sư lại miền Bắc và như vậy là cách ly lãnh tụ với phong trào. Nhưng tại đây, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ đã liên lạc được với Đảng. Bác Hồ đã cho cán bộ xuống gặp và chỉ đạo bằng mọi cách phải đưa Luật sư Nguyễn Hữu Thọ trở về miền Nam hợp pháp để tiếp tục nhiệm vụ đấu tranh thống nhất đất nước. Bác dặn Luật sư Nguyễn Hữu Thọ còn trọng trách ở miền Nam lớn lắm, phải tìm cách đấu tranh để trở về Sài Gòn. Với chỉ thị của Bác, Luật sư và các nhà trí thức đã công khai đòi trở về Sài Gòn. Chiếc máy bay của Ủy ban quốc tế đưa người Cộng sản bí mật ấy công khai trở lại Sài Gòn. Khi gặp Luật sư Hoàng Quốc Tân tại Paris, tôi được xác nhận lại chi tiết này - Luật sư Hoàng Quốc Tân nói: “Khi chúng tôi đấu tranh đòi về, Ngô Đình Diệm cay lắm, nhưng đành phải chịu cho về Sài Gòn”. Chính vì vậy, vừa về tới Tân Sơn Nhứt, cảnh sát ngụy quyền đã bắt giữ ngay Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng và ông Từ Bá Đước. Và ngay hôm say, đích thân Ngô Đình Diệm kí lệnh lưu đày và quản thúc Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tại Tuy Hòa - Phú Yên cùng mọt số trí thức yêu nước khác trong phong trào Hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn(1). Cũng chính vì vậy là nhân dân Phú Yên thường gọi Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là “Ông Hòa bình” hoặc “Anh Ba Hòa bình”.

    Tại Phú Yên, đầu tiên chúng đày luật sư tại xã Hòa Thịnh (Tuy Hòa), sau đó là thị trấn Củng Sơn (Sơn Hòa) và sau cùng là thị xã Tuy Hòa. Cho đến đêm ngày 30 tháng 10 năm 1961, được quân dân Phú Yên giải thoát ra vùng giải phóng, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ ở Phú Yên hơn 6 năm - sáu năm, là hai ngàn một trăm chín mươi ngày. Trên hai ngàn ngày đêm đó in sâu trong Luật sư Nguyễn Hữu Thọ nhiều tình cảm và kỉ niệm sâu đậm. Những kỷ niệm đó chúng ta thường gọi là “chuyện cũ, người xưa” và với anh Ba Thọ chuyện cũ người xưa nhưng tình không bao giờ cũ và cũng không bao giờ phai nhạt.

    Luật sư nhớ Hòa Thịnh, mảnh đất đầu tiên của Phú Yên nơi kẻ thù cầm cố. Luật sư nói: “Chúng tưởng đày về cái xã heo hút sẽ cô lập và làm chúng tôi nản lòng, nhưng chúng đâu biết chính Hòa Thịnh lại là xã phong trào Cách mạng rất mạnh, sau này là xã Đồng Khởi sớm cùng lượt với Nam bộ, là xã anh hùng. Về đó, khổ thật, nhưng cuộc sống giữ đồng chí của mình làm sao cô đơn được”. Tại Hòa Thịnh, chính quyền ngụy dựng lên một câu chuyện rất vô duyên nhưng lại trở thành một sự kiện. Những ngày ở Hòa Thịnh, một trong những yêu cầu của các “Ông Hòa bình” là được đọc báo. Kẻ địch cho cô N., một cô gái có nhan sắc, hàng ngày đem báo đến bán. Hôm ấy, chúng bố trí màn kịch nhằm hạ uy tín của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Như thường ngày, cô N. đem báo đến, Luật sư ngồi trong nhà. Các “bạn Hòa bình” của Luật sư đang quanh quẩn ngoài sân bỗng phát hiện có bóng dáng nhiều cảnh sát , và ngay khi Luật sư đang nhận báo thì cô N. giật hết hàng nút bóp áo ngoài để lộ chiếc áo trong đã được xé rách từ trước và cô ta xáp vô giằng co, la hét như đang bị cưỡng hiếp. Lập tức, cảnh sát ập vào hành hung Luật sư. Các bạn cùng bị quản thúc chứng kiến sự kiện ngang trái đó rất tức tối liền thịnh nộ phản đối, Luật sư bình tĩnh nói với cảnh sát: “Các ông cứ lập biên bản, có mọi người chứng kiến và xin nhớ, tôi là một Luật sư”.

    Câu chuyện lan truyền, các luật sư ở Sài Gòn bạn của anh Ba đâm đơn ra tòa. Tòa án ngụy quyền tỉnh Phú Yên mở phiên xét xử công khai. Luật sư kể lại: “Sự thật là quá rõ, nhưng dưới chế độ ngụy, tìm một vị thẩm phán xét xử công minh khó lắm. Cũng may là Chánh án Phú Yên ngày đó là một người có học và biết lẽ phải. Ông ta đã bảo vệ sự thật. Chính cô N. trước tòa cũng phải cúi đầu lặng im, không trả lời được các câu hỏi của Tòa và các luật sư.” Sau ngày giải phóng, tình cờ tôi có dịp gặp người phụ nữ đó, bà ta nói: “Tôi bị ép buộc phải làm vậy, Luật sư là người đàng hoàng, tôi ân hận lắm”. Chính phiên tòa công khai ở thị xã Tuy Hòa ngày đó đã làm tăng thêm uy tín và gây nhiều thiện cảm của nhân dân Phú Yên vớ Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Có làn tôi hỏi Luật sư: “Chú Ba còn nhớ cô N. bán báo ở Hòa Thịnh không?”. Luật sư cười: “Nhớ chớ, tội nghiệp cho cô ta. Trước tòa cô chứ nhìn tôi như xin cầu cứu. Cô ấy bị ép buộc chứ không phải là người xấu”. Sau ngày giải phóng, một trong những người Phú Yên mà Luật sư cho tìm để gặp là vị Chánh án phiên tòa nói trên.

    Luật sư nhớ như in và nhắc lại không biết bao nhiêu lần về những kỷ niệm, về con người Phú Yên.

    Luật sư nhớ Sơn Hòa, nhớ Củng Sơn, một thị trấn vùng rừng núi hẻo lánh. Ở đó địch bao vây, cấm đồng bào bán lương thực thực phẩm, cấm giao dịch… Nhưng, Luật sư kể: “Đêm đêm nghe tiếng chân chạy thình thịch sau hè và mờ sáng ra thấy “ai đó” để sẵn gạo, thịt…” và những ngày đó, Luật sư bị bịnh đường ruột, đi cầu ra máu rất nặng tưởng khó lòng qua khỏi. Một y tá là anh Bùi Khắc Thiệt, công dân Sơn Hòa, đã tận tình chữa khỏi cho Luật sư. Cũng từ những ngày đó, những ngày kẻ thù vây hãm gay gắt, người đảng viên bí mật Nguyễn Hữu Thọ liên lạc được với Đảng. Ngay khi vừa giải phóng miền Nam được một thời gian, Luật sư muốn tìm gặp lại gia đình bà Nai, anh Thiệt, và đặc biệt với anh Ba Suối, cán bộ cơ sở đã nối đường dây cho Luật sư với Đảng.

    Những ngày Luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị quản thúc ở Phú Yên, chính là lúc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời và chưa có Chủ tịch - Chức vụ đó đang chờ người trí thức NGUYỄN HỮU THỌ. Bác Hồ, Trung ước Đảng và Khu ủy Khu 5 giao nhiệm vụ đặc biệt này cho quân dân Phú Yên. Khu ủy giao cho đồng chí Trần Suyền - Khu ủy viên, Bí thư tỉnh ủy - chỉ đạo trực tiếp. Đồng chí Nguyễn Lầu - khi đó là Thường vụ Tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng Phú Yên - được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy thực hiện công tác đặc biệt này. Sau này, tôi có dịp gặp đồng chí Mười Lầu. Đồng chí kể rằng: Chúng tôi nhờ bà Thừa Hoàng xin Luật sư chọn cho một mật danh để tiện liên lạc. Sau khi cân nhắc, ông đã nói với bà Thừa Hoàng: “Gọi tôi là Nghĩa”. Cũng từ đó, tỉnh Phú Yên gọi tên nhiệm vụ đặc biệt giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là “Công tác chị Nghĩa”. Sau này, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ lấy bí danh thân yêu “Ba Nghĩa”. Tỉnh đội cử một đơn vị đặc công tinh nhuệ của tỉnh Phú Yên xâm nhập tìm hiểu để đề ra nhiều cách giải thoát Luật sư. Một phương án đánh nhanh, rút gọn vào Củng Sơn để đưa Luật sư ra vùng giải phóng được phê chuẩn. Trận đánh rất đẹp, nhưng thật không may, khi quân Giải phóng Phú Yên tiến vào Củng Sơn, đến tận nơi anh Ba Thọ ở, thì anh vừa được phép về Tuy Hòa nhận quà, gặp mặt gia đình ở Sài Gòn ra thăm. Chỉ còn lại hai chiến sĩ Hòa Bình và một vài người khác. Phú Yên đón hai chiến sĩ Hòa Bình này ra căn cứ.

    Không để anh Ba Thọ về lại Sơn Hòa được, bởi vì đồng chí Nguyễn Lầu nhận định: “Kẻ thù biết vai trò anh Ba Thọ, chúng có thể sát hại trên đường về Sơn Hòa và đổ cho “Việt Cộng” tấn cống.”

    Anh Ba Thọ cũng có ý nghĩ như vậy nên đã tìm mọi cách xin ở lại Tuy Hòa chữa bịnh. Anh thuê phòng số 1 quán trọ Vĩnh Đông Á (nay nằm trên đường Lê Thánh Tôn), và điều trị tại nhà thương Tuy Hòa (nay là Trường cấp II, phường 1, thị xã Tuy Hòa). Thời gian này, địch theo dõi chặt và anh Ba Thọ cũng rút vô bí mật, sống luôn luôn cảnh giác. Cơ sở của ta đã tìm ra cách liên lạc với Luật sư, nhưng làm sao để Luật sư tin kế hoạch giải thoát Luật sư là của Đảng… Giữa cuộc sống vàng thau lẫn lộn và kẻ thù giăng đầy cạm bẫy ấy, lấy gì để anh Ba Thọ tin? Cái khó đó được báo ra Trung ương. Lá thư thăm hỏi bình thường của người đồng chí trong phong trào hoà bình Sài Gòn - Chợ Lớn, Giáo sư Phạm Huy Thông, từ Hà Nội vượt cả ngàn cây số vào đến Tuy Hoà. Bà Thừa Hoàng mang bức thư đó trao tận tay Luật sư Nguyễn Hữu Thọ khi anh đang nằm nhà thương. Mọi quan hệ được chính thức xác định, đồng chí Bí thư Thị uỷ Tuy Hoà được bà Thừa Hoàng thu xếp gặp Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Tỉnh đội bố trí một tổ đặc công lọt vào nội thị do anh Nguyễn Sự trực tiếp đến bàn kế hoạch với Luật sư… Mọi việc đã chuẩn bị song. Đơn vị đặc công đã áp sát thị xã Tuy Hoà để chờ đón… Ngày ra đi, giờ ra đi đã đến. Chiếc xe đạp mới sắm đã chờ sẵn, nhưng không thấy “Người của mình” đến. Anh Ba Thọ sốt ruột, linh tính thấy có điều gì bất ổn. Anh đi lại trên hành lang nhà thương, thì bỗng cảnh sát dẫn một người mặt đầy máu đi ngược lại, người đó là anh Nguyễn Sự, “người của mình” - người chiến sĩ đặc công đã được tổ chức giao nhiệm vụ tiếp cận, bố trí để đưa anh Ba ra điểm hẹn. Anh Sự bị bắt, mọi chuyện bị đổ vỡ hết rồi sao? Anh Ba Thọ nhìn ngay vào anh Sự để tìm một tín hiệu. Anh Sự thản nhiên làm mặt lạnh. Anh Ba Thọ trở về phòng, ruột gan rối bời, một lúc sau anh nhận thức ra: Anh Nguyễn Sự vững vàng, dù kẻ thù tra tấn anh không khai. Nếu anh Sự khai thì sự thể đã khác. Anh ra khỏi bệnh viện, đi tản bộ như để được gần gũi với đồng bào, và thanh thản suy nghĩ. Những nụ cười thân quen của người dân Tuy Hoà vẫn nở tặng anh. Anh vẫn sống an toàn trong sự đùm bọc của cán bộ, chiến sĩ, đồng bào Tuy Hoà. Nhưng làm sao đây, bà Thừa Hoàng sau khi ráp nối xong đã được tổ chưa đưa ra căn cứ, anh Nguyễn Sự đã bị bắt… liên lạc bị mất. Khi kể chuyện này, Luật sư nhận định: “Qua những ngày ở Hoà Thịnh, Sơn Hoà, Tuy Hoà, tôi nhận thức ra rằng ở đâu có dân là ở đó có cơ sở cách mạnh, cho nên tôi tin rằng tôi sẽ liên lạc được với Đảng. Chỉ khó là thời gian nằm viện đã gần hết…”

    Đồng chí Nguyễn Lầu, trong lần gặp lại tôi cũng cho biết: Sau đó Tỉnh đã lập ra ba phương án. Phương án một là bố trí để Luật sư về lại Sơn Hoà rồi đón đường giải thoát, kế hoạch này phiêu lưu, vì đoạn đường thuận lợi để giải thoát cách Tuy Hoà quá xa. Nếu kẻ địch giản xảo hạ sát Luật sư trước lúc giải thoát thì sao? Hơn nữa, phải tấn công giữa ban ngày rất nguy hiểm…

    Phương án hai là đánh vào Tuy Hoà. Đơn vị trinh sát đã vẽ sơ đồ trận đánh, Tỉnh đội đã lên phương án điểm phải đánh, và đích phải đến để cứu thoát Luật sư.

    Phương án ba là tổ chức móc ráp lại một lần nữa để đón êm - một hành lang giaỉ thoát được hình thành, một trung đội quân Giải phóng sẽ áp sát xuống mả bà Dũ Kí thuộc xã Hoà Kiến để đón. Tổ chức để Luật sư mua một chiếc xe đạp mới và ngày ngày đi xe đạp dạo như thể thao cuối ngày, một tổ trinh sát bám theo, xem sự theo dõi của địch… tổ chức hướng dẫn để Luật sư tự đến điểm hẹn trong sự hổ trợ hoàn toàn bí mật.

    Cấp trên chọn phương án ba, lấy phương án hai làm dự phòng và quyết định thời điểm phải kết thúc “chiếc dịch chị Nghĩa” là trước ngày cuối tháng 12 năm 1961 - kỷ niệm một năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

    Anh Ba Thọ kể lại: Giữa lúc tối tăm tin tức thì anh Ba Suối xuất hiện. Anh Ba Suối, cán bộ cơ sở đã quen biết anh Ba khi anh ở Củng Sơn, được tổ chức cử xuống Tuy Hoà giả làm nông dân đi tìm Luật sư để hỏi cách thưa kiện, đã gặp Luật sư bàn cách thực hiện phương án ba. Mọi chi tiết được bàn kỹ, kể cả ngày giờ ra đi…

    Có thể nói đó là một ngày vui. Cả đêm anh Ba Thọ thao thức khó nghĩ. Những ngày sau đó, anh Ba Thọ đã làm đúng kế hoạch, chiều chiều đạp xe đi dạo, lòng vòng thị xã, có lúc ra biển, bỗng anh sực nhớ ra điểm hẹn là mả bà Dũ Kí, ở Tuy Hoà thời đó ai cũng biết, nhưng với anh Ba Thọ thì quá xa lạ. Lúc làm việc với anh Ba Suối, anh Ba Thọ cũng quên hỏi và anh Ba Suối cũng không chỉ đường đến đó. Biết đi đường nào để đến mả bà Dũ Kí? Hỏi ai bây giờ? Hỏi không đúng lộ ra sẽ đổ bể hết. Luật sư lục hết mọi mối quan hệ quen biết ở Tuy Hoà để chọn lựa. Ạnh nhớ đến bà Giáo Sáu trên đường Lê Thánh Tôn nhà ở xéo góc với Vĩnh Đông Á có tiệm bán tạp hoá, anh Ba vẫn đến mua đồ dùng và quen thân. Anh Ba biết bà có người con gái là cô giáo tập kết ra Bắc. Có thể tin cậy nhưng liệu có hỏi bà được không? Anh Ba Thọ đến chuyện trò đôi ba câu rồi làm bộ hỏi thoáng qua:

    - Nè, nghe nói ở đây có mả bà Dũ Kí, mả đó ở đâu hở bà?

    Bà Giáo Sáu nhìn ônng, rồi cười thân ái:

    - Bộ ông định đi hở?

    Luật sư lạnh hết cả người, lộ rồi sao? Một lần nữa, anh Ba nhìn thẳng vào bà Giáo Sáu thăm dò. Bà cười, anh đọc được ở nụ cười của bà một sự chân thành và tin cậy. Bà Giáo Sáu chỉ rõ cho anh vị trí, đường đi ra mả bà Dũ Kí.

    Sau này khi kể lại, Luật sư nói: “Giác ngộ cách mạng là một tiềm ẩn của người dân Phú Yên. Câu chuyện của bà Giáo Súa làm tôi trằn trọc mãi. Tôi thầm cảm ơn bà Giáo Sáu, cảm ơn nhân dân thị xã Tuy Hoà. Nếu giác ngộ cách mạng không thấm đến mỗi người dân Phú Yên thì tôi làm sao ra được điểm hẹn”. Luật sư kể tiếp: “Tính tiểu tư sản của trí thức có cái hay nhưng nhiều khi cũng mệt. Đến ngày đi, tôi mua ít trái cây đem tặng bà Giáo Sáu để thầm cảm ơn bà ta, ai ngờ, khi nhận trái cây bà Sáu hỏi:

    - Bộ ông tính hôm nay đi hả?

    “Một sự tinh tế, nhạy bén đến đáng khâm phục”. Hình ảnh đó mãi 34 năm sau Luật sư vẫn nhớ. Trong chuyến ra thăm Phú Yên, Luật sư đã tìm thăm bà Giáo Sáu. Đã ngoài 90 tuổi, hai mắt bà loà và trước khi qua đời vài tháng, bà vẫn nhắc lại câu chuyện ngày xưa với Luật sư Nguyễn Hữu Thọ một cách minh mẫn.

    Từng mẩu chuyện nhỏ, từng con người xưa ở Phú Yên đã dựng nên quãng thời gian lịch sử mà sau này, dù ở cương vị người đứng đầu của Nhà nước Việt Nam, của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trước đó là Mặt trận Dân tọc Giải phóng miền Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam, Luật sư vẫn không hề quên một chi tiết nhỏ nào. Đúng là Phú Yên đã in đậm trong Luật sư “những tình sâu nghĩa nặng mãi mãi không bao giờ phai mờ” như Luật sư đã phát biểu trong lần gặp đầu tiên khi trở lại Phú Yên.
     
    Chỉnh sửa cuối: 9/7/19
    Diên Vĩ thích bài này.
  12. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100


    Nghĩa tình Phú Yên

    (Viết về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với Phú Yên)
    .III.

    Kể từ chiều 5 tháng 9 năm 1969, ngày đầu tiên gặp, và sau này nhiều lúc được tiếp xúc và làm việc với Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, đến nay đã hơn một phần tư thế kỷ. Điều gây ấn tượng sâu sắc và luôn làm tôi hết xúc động này đến xúc động khác là tình cảm của Luật sư dành cho Phú Yên quê hương tôi. Ngay những ngày đất nước chưa giải phóng, mọi đi lại của Luật sư ở miền Bắc phải rất bí mật, nhưng Luật sư luôn tìm cách để thăm, để tiếp các anh chị em Phú Yên. Và trong nhiều ngày, nhiều lần Luật sư nhắc đến người anh em Phú Yên kết nghĩa của mình là Liệt sĩ Nguyễn Lầu. Luật sư kể: “Anh Nguyễn Lầu ngày đó gọi là anh Mười Dũng, một con người làm công tác quân sự nhưng rất nhân hậu, vui vẻ. Một tháng ở lại với Tỉnh uỷ Phú Yên chờ ngày về Trung ương Cục, chính anh Mười Dũng và anh Sáu Suyền đã khái lược tình hình cách mạng miền Nam, thế chiến lược và chủ trương của Đảng cho tôi nghe.” Luật sư nói: “Ở thành phố ra, cái gì cũng bỡ ngỡ, cũng lạ, từ cách ăn, cách nấu, cách tắm giặt, cách nằm võng, cách phát hiện tiếng… tất cả tôi đều được các anh chị và các cháu chỉ dẫn cho”. Một lần anh Ba Thọ kể: “Lúc đó có một từ mới nghe không sao hình dung nổi, đó là ‘đường dây’. Anh em Phú Yên nói nghỉ ngơi ít lâu rồi sẽ bố trí đưa tôi lên đường dây về Trung ương Cục. Tôi cứ nghĩ ‘đường dây’ là một cách đi thần kì nào đó, như ngồi trên một cái thang dây chẳng hạn, về sau tôi mới hiểu ra, đường dây là các trạm nối nhau bởi những con người dũng cảm gan góc và mưu trí trên đường mòn Hồ Chí Minh”. Anh Ba cho biết, anh và anh Mười Lầu đã kết nghĩa anh em và đã đổi nhau chiếc đồng hồ làm kỷ niệm. Biết tình cảm đó của Luật sư, tôi đã phóng một tấm ảnh chân dung cậu Mười Lầu của tôi (tức là đồng chí Mười Dũng) tặng Luật sư. Năm năm sau đó, một lần Chủ tịch cho gọi tôi đến và nói rất nghiêm túc về việc tấm ảnh đồng chí Mười Dũng bị thất lạc, Luật sư đã tìm mấy ngày không thấy, và thiết tha đề nghị tôi phóng cho một tấm ảnh khác. Sự việc rất đơn giản, đáng ra Chủ tịch chỉ nói một câu, tấm ảnh sẽ được phóng ra ngay sau đó vài giờ. Nhưng Chủ tịch đã nói về tấm ảnh và sự việc này đến gần 15 phút và luôn tỏ ra áy náy, bứt rứt vì đã bị thất lạc tấm hình người anh em Phú Yên kết nghĩa này. Một lần nghe tin anh Nguyễn Phước - con trai đồng chí Nguyễn Lầu - ra Bắc học và chữa bịnh, Luật sư muốn tìm cách gặp. Cũng như vậy với bà Thừa Hoàng, Luật sư nói: “Ở Tuy Hoà tôi có quen bà Thừa Hoàng, nhưng đâu có biết bà có con trai, con dâu tập kết ra Bắc. Mọi đầu mối bắt đầu để liên lạc với Đảng bộ Phú Yên là qua bà Thừa Hoàng. Hôm bà Thừa Hoàng mang lá thư của Giáo sư Phạm Huy Thông từ Hà Nội gởi cho tôi, tôi mừng đến run cả người, suốt đêm không ngủ. Tôi thầm phục Trung ương, thán phục sự tinh tế đến từng chi tiết của Bác Hồ. Một lá thư với vài dòng chữ thăm hỏi bình thường, nhưng nếu không có, làm sao tôi tin được những người tôi gặp là của Đảng. Và cảm động xiết bao, lá thư được viết từ Hà Nội, vượt cả ngàn cây số đường Trường Sơn, lá thư thấm bao mồ hôi và cả máu của bao chiến sĩ để cuối cùng được bà Thừa Hoàng trao cho tôi. Những ngày ở miền Bắc, nhiều lần Luật sư cho mời bà Thừa Hoàng và con dâu đến ăn cơm thân mật cũng từ lí do sâu sắc đó.

    Sau giải phóng ít lâu, Luật sư về thăm lại Phú Yên (khi đó là một phần của Phú Khánh). Cuộc đi thăm ngắn ngủi không thoả lòng mong muốn của Luật sư và của bà con Phú Yên. Thế rồi, mỗi năm, mỗi năm trôi qua, ngay cả khi giữ cương vị đứng đầu nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Luật sư vẫn đề ra chương trình về thăm lại Phú Yên, nhưng chưa thực hiện được. Mãi đến năm 1993, cuộc đi mới được tổ chức. Khi đó Luật sư đã 84 tuổi (tính theo tuổi ta) và đã hai lần bị tai biết mạch máu não. Chủ tịch tỏ quyết tâm rất cao. Sau khi nghe tôi và nhóm đi tiền trạm ở Phú Yên về báo cáo, Chủ tịch rất vui và cho đến trước ngày lên đường, Chủ tịch gọi tôi hỏi đến 5 lần về từng người thân quen cũ, dặn dò chi tiết từng việc nhỏ đi chuyến đi thành công. Luật sư dặn tôi phải xem ai khó khăn, nên có chút đỉnh gì giúp đỡ họ…

    Và sau lần thăm chính thức Phú Yên về, ước mong được toại nguyện, Luật sư luôn nói: “Một chuyến đi đại thắng lợi”, “Một chuyến đi nghĩa tình trọn vẹn”. Luật sư nói với tôi: “Tôi rất bất ngờ là có thể còn gặp gỡ được nhiều anh chị là những người đã tham gia giải thoát tôi, đặc biệt là những người đã giúp tôi, nhưng tôi không hề biết và đến nay mớ gặp lần đầu”. Đó là một sự thật. Khi chúng tôi ra làm việc tiền trạm thì danh sách đó chỉ dưới 10 người. Nhưng ngay khi Luật sư về đến Phú Yên, danh sách lên đến 26 người, trong đó nhiều người là những chiến sĩ vô hình mà Luật sư chưa một lần gặp mặt. Sau buổi gặp gỡ thân mật với số ân nhân Phú Yên do Tỉnh uỷ tổ chức, Luật sư xúc động tâm sự: “Trong những năm 1960 mà Phú Yên có một lực lượng đông đúc như vậy để giải thoát tôi quả là vĩ đại. Tôi đâu có ngờ rằng mỗi chiều mình đạp xa đi vòng vo trong thị xã để đánh lạc hướng địch lại có các đồng chí mình cũng theo sát và mọi động tĩnh đều được báo cáo, thật là thần kỳ.” Trước ngày tôi lên đường đi tiền trạm cho chuyến đi thăm Phú Yên, Luật sư dặn tôi nhớ tìm cho đủ những người xưa đã quen biết - Luật sư nhắc đến một lá thư của chị Đàm Thị Lí quê ở Hoà Kiến ởi cho ông cách đó 10 năm và dặn tôi nhớ tìm. Ra Tuy Hoà, tôi tìm gặp được chị Đàm thị Lí và chị lại cho tôi bản lưu bức thư gởi Chủ tịch 10 năm về trước. Tôi xin được trích bức thư đó vào bài viết này:

    “Tuy Hoà, ngày 20 tháng 7 năm 1984.

    Thưa Bác! Từ ngày Bác ở Tuy Hoà đến nay đã hơn 20 năm rồi Bác nhỉ!

    Hôm nay lần đầu tiên cháu biên thư thăm Bác đây, nhận được thư cháu chắc Bác không khỏi ngạc nhiên.

    Thưa Bác! Trước tiên cháu kính lời chúc sức khoẻ Bác được dồi dào để Bác phục vụ thật nhiều cho đất nước.

    Bác ơi! Cháu còn nhớ tháng 10 năm 1961, ngày mà bác ra đi khỏi quê hương thị ã Thuy Hoà thân yêu của cháu, trời đã chuyển lạnh. Với bộ bà ba trắng Bác đi chiếc xe đạp với mới ráp xong. Rẽ vào chân núi Chóp Chài, trời vừa tối Bác gởi xe và Bác cải trang bộ bà ba sang đen đậm?

    Bác oi! Bác còn nhớ không? Chúng cháu rất vui mừng và cám thấy rất nhẹ nhõm khi đã đưa Bác đi qua được một bót gác. Đó là một bót gác của bọn ác ôn khét tiếng. Dáng Bác lúc ấy trong yểu điệu, cháu không ngờ Bác lại rất nhanh nhẹn: lội ruộng cũng giỏi mà vượt đồi cũng nhanh, chỉ một ngày, mấy Bác cháu đã đến nơi an toàn, và từ đó cháu chia tay Bác.

    Thưa Bác, người chỉ huy của tổ đón Bác hôm đó là đồng chí Quyền, là chồng của cháu. Trong tổ còn có đồng chí Thái, trợ lí quân báo Thị đội Tuy Hoà, là em ruột của cháy và một chiếc sĩ là An, cùng quê của cháu. Các đồng chí ấy đều đã lần lượt hy sinh. Đến ngày giải phóng chỉ còn có cháu thôi. Hồi đó cháu và các đồng chí trong tổ phải mất cả năm trời chuẩn bị mới có thể đảm bảo an toàn cho việc đưa Bác ra đó. Má cháu ngày đó nuôi tổ trinh sát của Tỉnh đội trong nhà để phối hợp cùng cháu nằm tình hình địch giam giữ Bác như thế nào, để tổ chức việc đưa Bác ra. Cháu đã hết sức cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ tham gia giải thoát Bác khỏi tay giặc, và nhiệm vụ đó đã trở thành một kỷ niệm sâu sắc đối với cháu trong những năm lăn lộn, công tác ở vùng tạm chiến.

    Sau ngày miền Nam giaiỉ phóng, câu chuyện đó đã được Viện Bảo tàng Trung ương dựng thành phim ảnh, cảnh nhà mẹ cháu và cháu cũng được vinh dự có chỗ đứng trong phim đó.

    Sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, cháu được nghe trong một chuyến đi công tác, Bác có ghé lại thăm thị xã Tuy Hoà quê hương của cháu, nhưng cháu không may mắn được gặp Bác…”

    *

    * *
    Sau buổi gặp gỡ các ân nhân Phú Yên, Luật sư hỏi tôi: “Chị Lí mình gặp tối nay có phải là người đã viết thư cho tôi không?”. Tôi thưa:

    - Dạ, người mặc áo dài màu vàng kim chính là chị Lí và chị Trần Minh Thư em ruột đồng chí Trần Quyền, đội trưởng đặc công. Khi chú ra khu ở Phú Yên, chị Thư là cán bộ của Tỉnh đã săn sóc giúo đỡ chú. Đơn vị quân Giải phóng Phú Yên tham gia giải thoát chú đã hy sinh gần hết.

    Luật sư xúc động bồi hồi, nói: “Nhiều người không còn nữa, họ là những anh hùng mà tôi mãi mãi ghi ơn”. Nhiều lần Luật sư nhắc với tôi về gia đình chị Đàm Thị Lí, một gia đình có đến năm ân nhân đối với Luật sư.

    Cũng như vậy, sau này khi nghe tin anh Nguyễn Sự mất, Luật sư liền có điện chia buồn. Ông buồn lắng mấy ngày liền và ngày nào cũng ngợi ca anh Nguyễn Sự. Nhân dịp Tết 1995, Luật sư cử tôi về thăm và chuyển quà đến những người quen thân ở Phú Yên và dặn nhớ đến thăm gia đình anh Nguyễn Sự, thắp nhang trước bàn thờ anh ấy. Luật sư nhắc lại hành động gan vàng dạ sắt của anh Nguyễn Sự khi bị địch bắt tra tấn vẫn không khai. Luật sư nói: “Anh Sự là một chiếc sĩ anh dũng vô song”.

    Tôi nhớ khi Quốc hội bàn việc giao cảng Vũng Rô cho Phú Yên, Luật sư rất trăn trở, ông nói: Đất trời là của Tổ quốc, của nhân dân, tình nào cần thì giao quản lí, đừng đặt ra của tỉnh này tỉnh nọ mà mất đoàn kết. Luật sư viết thư kiến nghị giao cảng Vũng Rô cho Phú Yên vì Phú Yên không có cảng và Tuy Hoà sẽ là cửa ngõ của Tây Nguyên. Và khi tôi báo cáo cho Luật sư biết: Đồng chí Lương Công Đoan, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Yên đang họp tại Hội trường Ba Đình vừa điện về báo tin Quốc hội đã thông qua Nghị quyết giao cảng Vũng Rô cho Phú Yên, Luật sư rất vui, ông bảo tôi: Ta có thể mở sâm banh mừng tin vui này. Luật sư nói: Cảng biển là cửa ngõ, là lối ra cho một vùng, nó rất quan trọng.

    Trầm ngâm một lúc, ông nói: Lãnh thổ là của toàn dân, nó là tài sản của Tổ quốc.

    *

    * *​

    Sau chuyến về thăm lại Phú Yên tháng 3 năm 1993, mối quan hệ đặc biệt giữa Luật sư với Phú Yên được phát triển và gắn bó. Anh Ba luôn nói với các anh trong Bộ Chính trị, trong Thường trực Chính phủ: “Tôi có tình cảm đặc biệt với Phú Yên, Phú Yên là quê hương thứ hai của tôi.” Anh dành nhiều suy nghĩ về việc xây dựng một tỉnh Phú Yên giàu mạnh, phồn vinh. Mỗi lần nghe tin đồng chí Chín Cao (Nguyễn Duy Luân) Bí thư Tỉnh u‎ỷ Phú Yên sắp vào thăm, Luật sư vui và đợi chờ, có đêm thao thức trăn trở gần tới sáng. Tết 1994, Tết 1995, sinh nhật lần thứ 84, lần thứ 85 của Luật sư luôn có mặt các anh chị Phú Yên từ tỉnh nhà vào thăm và anh chị em đồng hương Phú Yên ở Thành phố Hồ Chí Minh. Những lúc anh Na lâm bịnh nặng vẫn luôn có mặt các chị, các anh ở tỉnh Phú Yên và các huyện Tuy Hoà, Sơn Hoà. Một lần, bên giường bịnh, một chị cán bộ Phú Yên tỏ lòng biết ơn Luật sư Chủ tịch đã quan tâm giúp đỡ Phú Yên. Luật sư nói: “Phú Yên biết ơn tôi một, tôi biết ơn Phú Yên mười.” Đầu năm 1995, trong dịp Tết Tây, tuy vẫn còn yếu sau trận tai biến mạch máu não lần thứ ba, nhưng khi nghe các anh lạnh đạo Phú Yên vào làm việc với Thường trực Chính phủ ghé thăm, Chủ tịch yêu cầu chuẩn bị cho Chủ tịch ăn mặc chỉnh tề, thắt ca vát, để tiếp khách. Và hôm đó Luật sư đã tiễn anh Lương Công Đoan, Bí thư Tỉnh uỷ, và các anh lãnh đạo Phú Yên ra tận cửa. Trong phút chia tay, Luật sư để tay lên ngực mình nói trong nỗi xúc động tột độ: “Mỗi ngày, mỗi ngày tôi luôn nhớ đến Phú Yên bằng tình cảm sâu sắc nhất”. Và Luật sư đứng, vẫy tay chào cho đến khi xe chở các anh lãnh đạo Phú Yên đi hút ra ngoài cổng.
     
    Chỉnh sửa cuối: 9/7/19
    Diên Vĩ thích bài này.
  13. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    Nghĩa tình Phú Yên
    (Viết về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với Phú Yên)
    .IV.

    Tôi nhớ năm 1993, khi trận lụt thế kỉ xảy ra với Phú Yên, tiếp theo là trận bão, Chủ tịch yêu cầu chúng tôi báo cáo mỗi ngày: Những hậu quả gây ra, việc khắc phục và những khó khăn đang gặp phải của các đồng chí, đồng bào Phú Yên. Chủ tịch giao chúng tôi dự thảo điện thăm hỏi. Khi thông qua điện văn, hai lần Luật sư lấy kính lau nước mắt. Luật sư quyết định dành một phần lương góp quỹ hỗ trợ giúp đồng bào bị lụt bão ở Phú Yên. Chủ tịch gởi thư cho Trung ương, gởi riêng cho anh Võ Văn Kiệt, anh Phan Văn Khải, gởi thư cho các tổ chức đoàn thể, cho các tỉnh thành, đề nghị và kêu gọi giúp đỡ Phú Yên. Luật sư quan tâm sâu sắc đến việc khắc phục hậu quả. Sau buổi nghe anh Nguyễn Thành Quang (lúc đó là Phó Chủ tịch UBND tỉnh) - Trưởng ban chỉ huy phòng chống lụt bão của tỉnh - thay mặt Tỉnh báo cáo, Chủ tịch chỉ thị chúng tôi chuẩn bị ngay thư kêu gọi bổ sung. Tôi nhớ lần đó, thông qua thư kêu gọi cứu trợ đồng bào Phú Yên xong đã năm giờ chiều. Tôi về đến nhà, thì một giờ sau, có chuông điện thoại, Luật sư gọi điện cho tôi, yêu cầu sửa lại một số câu trong bức thư sắp gởi đi. Chủ tịch nhớ thuộc lòng từng từ trong bức dự thảo. Chủ tịch nói: Phải thêm một đoạn cho cụ thể, thống thiết hơn và đoạn thư đó được viết thêm như sau: “Tuy nhiên, đến nay hậu quả trận lụt vẫn để lại cho Phú Yên một di hại rất nặng nề. (Câu in nghiêng là sửa lại từ câu “Những thiệt hại to lớn”). Và tiếp thêm một đoạn “gần 100.000 người không có nhà ở, và có nguy cơ bị đói - nhất là những tháng giáp hạt tới, gần 10 vạn người này không đủ hạt giống, phân và vốn để làm vụ mùa tới, con giống càng thiếu hơn. Hàng ngàn cháu thiếu trường học, quần áo… Đó là chưa nói đến việc Phú Yên cần cả trăm tỷ đồng để xây dựng lại đường sá, kênh mương thuỷ lợi do lũ lụt phá huỷ…”.

    Luật sư hài lòng nói: “Mọi người rất cần những thông tin cụ thể và chính nó có sức thuyết phục lớn.”

    Nhiều ngày sau đó, Luật sư hỏi thăm về sự hư hại của đập Đồng Cam, nơi Luật sư đã đến thăm trong chuyến về lại Phú Yên. Một thời ngắn sau đó, được anh Nguyễn Thành Quang báo tin: Bằng sự nỗ lực của nhân dân, của tỉnh, cộng với sự chi viện của Trung ương, Phú Yên đã sửa xong hệ thống thuỷ nông Đồng Cam trong vòng mấy chục ngày. Luật sư cười, ông đưa tay lên bàn lấy tập sách “Mạch sống quê hương” của Công ty thuỷ nông Đồng Cam tặng, giơ cao lên và nói “Hoan nghênh Phú Yên, hoan nghênh Phú Yên” trong niềm vui bất tận.

    *

    * *​


    Với Sơn Hoà cũng vậy, ngay trong khi những ngày ở thăm Phú Yên, biết chuyện miền núi Sơn Hoà chưa có điện, chưa có chợ và bến xe… Luật sư đã dành trọn một buổi nghỉ trưa tự tay mình thảo một bức thư gởi đồng chí Phan Văn Khải đề nghị giúp đỡ cho Sơn Hoà và yêu cầu cho đánh máy ngay trưa đó. Bức thư được gởi theo đường công văn và gần hai tháng sau đó, Luật sư yêu cầu chúng tôi kiểm tra lại xem sự việc đã được giải quyết đến đâu? Khi được biết chưa thấy Văn phòng Chính phủ trả lời, Luật sư nói: “Gởi đường công văn có khi không đến được.” Luật sư viết tiếp một lá thư nữa gởi anh Phan Văn Khải và yêu cầu chúng tôi trực tiếp giao tận tay. Lần đó, nghĩ rằng có thư của Luật sư kèm theo, nên tôi chuyển luôn công văn đề xuất của Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Hoà cho đồng chí Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ. Hôm sau, tôi nhận được bản trả lại của đồng chí Phan Văn Khải. Một mẩu giấy vàng đính trên thư, đồng chi Phan Văn Khải ghi: “Anh Hai Phú, Thủ tướng không giải quyết những trường hợp vượt cấp, phải thông qua Uỷ ban nhân dân tỉnh”. Nhưng khi lật trang sau thì đồng chí Phan Văn Khải ghi đồng ý và chỉ thị Bộ Tài chính, Tổng công ty Điện lực giải quyết. Đồng chí Phan Văn Khải nói: Thiếu thủ tục thì bổ sung, nhưng ta không thể không giải quyết trước yêu cầu và tình cảm cao quí của anh Ba Thọ với Phú Yên. Ông cười vui cả ngày hôm đó. Một lần khác ông còn đề nghị anh Phan Văn Khải cho Sơn Hoà được xây cất một cung văn hoá hoặc một trường cấp III cho các cháu thiếu niên người dân tộc. Luật sư nói: “Củng Sơn nghèo lắm, chú nói với anh Sáu Khải, thương tôi, thương Sơn Hoà giúp đỡ để có một cơ ngơi cho các cháu ở một huyện đồng bào dân tộc. Giúp gì được, đừng tiếc…”(1)

    (1) Sau này (1997) Thủ trướng Phan Văn Khải đã giải quyết cho Sơn Hoà 3 tỉ đồng để xây dựng Cung văn hoá thiếu nhi dân tộc theo đề nghị của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ


    *

    * *​

    Đầu năm 1995, tôi đi công tác Phú Yên về Luật sư hỏi tỉ mỉ từng chương trình phát triển kinh tế, về ý đồ của tỉnh và hôm đó, Luật sư nói rất lâu về Phú Yên, muốn Phú Yên có quy hoạch để xây dựng thành phố Tuy Hoà thành một thành phố biển kéo dài từ cảng Vũng Rô chạy dọc theo biển ra đến ngoài thị xã Tuy Hoà đọ 10-15 km. Chủ tịch đánh giá: Đó là một thành phố đẹp vì nó có cảng biển lớn, có sân bay Đông Tác, có sông, có núi, có biển, có đường Quốc lộ 1 chạy qua, lại có đường 7 làm cửa ngõ Tây Nguyên… Chủ tịch nói: “Tôi nghe nói anh Đỗ Mười khi về thăm Phú Yên hoan nghênh ý định này lắm - Chú nhớ nhắc các chị các anh Phú Yên cố xây Thành phố Tuy Hoà cho thế hệ sau… Phú Yên phải sớm công nghiệp hoá, phải đi từ công nghiệp chế biến, công nghiệp gắn với nông nghiệp, công nghiệp du lịch thì mới đi lên được, làm nông nghiệp thì chỉ đủ ăn chớ không giàu và xã hội văn minh chậm lắm.” Trong nhiều lần Chủ tịch nhấn mạnh: “Đoàn kết và phát huy truyền thống là tiềm năng vô song của Phú Yên…”

    Những ý nghĩ, tâm tư, tình cảm của anh Ba Thọ với Phú Yên khó có bút mực nào kể hết.
     
    Chỉnh sửa cuối: 9/7/19
    Diên Vĩ thích bài này.
  14. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100


    Nghĩa tình Phú Yên

    (Viết về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với Phú Yên)
    .V.
    Tôi muốn ghi lại đây về ngày 9 tháng 2 năm 1995, đó là ngày làm việc cuối cùng của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Bởi vì nửa đêm hôm đó, Luật sư bị tai biến mạch máu não lần thứ tư và từ đó đến nay, Luật sư ngày đêm chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo này.

    Buổi sáng, Luật sư đề nghị tôi điện ra Hà Nội hỏi thăm Giáo sư Phạm Khuê về việc chuẩn bị Đại hội thành lập Hội Người cao tuổi Việt Nam. Luật sư lúc đó kiêm chức Trưởng ban vận động thành lập Hội Người cao tuổi Việt Nam và theo dự kiến, trong đại hội sẽ giới thiệu Luật sư làm Chủ tịch hội. Luật sư dặn hỏi xem ông còn phải làm gì nữa cho ngày khai mạc Đại hội thành lập Hội. Nếu Luật sư không ra dự Đại hội được thì có nên viết thư gởi Đại hội không? Mười giờ sán, anh Đoàn Duy Thành, trước là Phó Thủ tướng, là Bộ trưởng Bộ thương mại, hiện là Chủ tịch Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam đến thắm. Hai người nói chuyện rất lâu, rất vui và cũng rất thân mật. Vẫn còn trong những ngày đầu của Tết nguyên đán, Luật sư đề nghị rót rượu để chúc mừng anh Thành, tất nhiên Luật sư chỉ nhấp môi… Cuộ gặp gỡ để lại trên gương mặt Luật sư sự rạng rỡ, hồ hởi, vui vẻ rất nhiều giờ sau đó…

    Buổi chiều, gần cuối giờ, Luật sư nhận được thư của Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Chuyện là: Trong dịp sát tết, Luật sư nhận được thư của Tỉnh uỷ Phú Yên trong đó có một số đề nghị Chính phủ hỗ trợ Phú Yên nhờ luật sư giúp đỡ. Ngày 7 tháng 2, tức mồng tám tết, biết Thủ tướng còn ở trong Nam, Luật sư cho viết thư gởi Thủ tướng, trong thư có đoạn như sau:

    “Tết năm nay tôi rất vui trong sự tiến triển tốt của sức khoẻ, đặc biệt là gặp gỡ đầu xuân giữa tôi và anh. Một lần nữa, rất thân thiết tôi chúc anh chị nhiều sức khoẻ, hạnh phúc và thành công.”

    Luật sư đề nghị Thủ tướng giải quyết cho Tỉnh uỷ Phú Yên một vài yêu cầu “nhằm giúp cho Tỉnh Đảng bộ Phú Yên có thêm nguồn thu, tăng kinh phí, và có cơ chế cho Phú Yên vượt qua nghèo khó để hoạt động”. Cuối cùng, Luật sư viết:

    “Như anh biết, tôi có mối quan hệ đặc biệt với Phú Yên, vì vậy rất mong anh ưu ái xem xét cho trường hợp này.”

    Sáng ngày 8 tháng 2, thư đánh vi tính xong trình Luật sư kí, chưa kịp gởi đi thì Luật sư đề nghị sửa mấy chữ: Trước hết là hai chữ trong câu “cuộc gặp gỡ đầu xuân giữa tôi và anh” thành “cuộc gặp gỡ đầu xuân giữa anh và tôi”. Dòng cuối, Luật sư đề nghị sửa câu: “Mong anh ưu ái, xem xét cho trường hợp này” thành “Mong anh ưu ái, xem xét giải quyết.”

    Sửa xong, Luật sư nói: “Phải viết anh và tôi mới nghiêm chỉnh” và đề nghị “Xem xét giải quyết” chứ không phải chỉ “Xem xét”. Tôi nêu lại chi tiết này để thấy đến ngày làm việc cuối cùng, Luật sư vẫn rất trách nhiệm, trí tuệ vẫn minh mẫn, từ ngữ dùng vẫn chuẩn xác, tinh tế. Thư được gởi đến Thủ tướng ngay trong chiều hôm đó. Và ngày hôm sau (9/2/1995), Luật sư nhận được ý kiến trả lời của Thủ tướng hứa sẽ giúp đỡ Phú Yên trước mắt và lâu dài.

    Luật sư Nguyễn Hữu Thọ rất vui. Ông cầm bức thư nói: “Mình mới gởi hôm qua, hôm nay đã có trả lời”. Luật sư bảo tôi báo ngay cho đồng chí Nguyễn Duy Luân, Bí thư Tỉnh uỷ Phú Yên biết. Đâu có ngờ rằng đêm đó Luật sư bị tai biến phải đi cấp cứu…

    Người khách cuối cùng Luật sư tiếp trong đời là anh Đoàn Duy Thanh, bức thư cuối cùng Luật sư gởi đi là thư gởi Thủ tướng về chuyện Phú Yên và bức thư cuối cùng Người nhận được là ý kiến trả lời của Thủ tướng cũng về chuyện Phú Yên. Công việc cuối cùng trong đời của Luật sư là cho Phú Yên, tạo thêm nguồn thu cho Đảng bộ Phú Yên, để giúp đỡ Phú Yên có cơ chết vượt qua nghèo khó đi lên.

    Nghĩa tình đó, trách nhiệm cao cả đó, sâu đậm và cách mạng biết bao…

    Ngày 26 tháng 6 năm 1995.
     
    Chỉnh sửa cuối: 9/7/19
    Diên Vĩ thích bài này.
  15. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100


    ĐÔI NÉT VỀ LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ

    Trong cuộc đời của mình, tôi có thời gian làm việc bên cạnh Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, nhà chính trị, nhà trí thức lớn của Cách mạng Việt Nam. Một trong những lãnh tụ mà tôi yêu quí. Tôi định viết một bài kí dài hoàn chỉnh để ghi lại những gì đã nghe, thấy và hiểu được về Luật sư Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, nhưng vì nhiều lí do nên chưa làm được.

    Bài kí này, gốc là hai bài ghi chép về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ của hai người lớn tuổi kể lại. Tác giả lấy chung một tít “Đôi nét về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ”.

    1. GHI ĐƯỢC Ở PARIS: (1)

    (1) Ghi theo lời kể của Luật sư Hoàng Quốc Tân - Việt kiều Pháp - Nguyên Trưởng ban Trí vận Thành uỷ Sài Gòn.

    Cuối tháng 9 thăm 1995, tôi sang Pháp, tìm đến Aix-En-Provence thăm trường Đại học Luật - nơi Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã học -và sau đó xuôi xuống phía Nam, đến Vương quốc tự trị Monaco để tìm gặp Luật sư Hoàng Quốc Tân. Nhưng không may, ông yếu phải về Parias. Tại một khu ngoại ô Paris, tôi gặp Luật sư Hoàng Quốc Tân. Ông gốc ở Hà Nội, con trai của Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu (cháu nội của một khâm sai đại thần triều Nguyễn), một quan lại nổi tiếng thời Pháp. Vậy nhưng ngay tại thủ đô nước Pháp, ông lại là người theo Đảng Cộng sản rất sớm. Sau này khi về nước, ông được Đảng phân công làm Trưởng ban Trí vận Thành uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn. Gặp chúng tôi, “Những người bên nhà mới sang”, ông vui và khoẻ. Luật sư Hoàng Quốc Tân bắt đầu những hồi ức về anh Ba Nguyễn Hữu Thọ từ những chuyện rất thân tình và ông vào đề rất nhanh:

    Cuối năm 1946, sau hội nghị Fontainebleau, Bác Hồ chỉ thị tôi trở về nước hoạt động ở Sài Gòn và ngay lúc ở Paris, Bác dặn tôi: “Về đến Sài Gòn nhớ liên lạc với Luật sư Nguyễn Hữu Thọ.”

    Tháng 9 năm 1947, anh Ba Thọ được mời ra Bưng dự lễ kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 3 trở về, tôi gặp anh . Lúc đầu, tôi được tin tổ chức sẽ đưa anh Thọ thoát ly ra khu tham gia Chính quyền cách mạng, nhưng sau được Thành uỷ thông báo lại là Trung ương chỉ thị anh Thọ phải trở lại hoạt động giữa Sài Gòn. Khi đó tôi được giao nhiệm vụ phụ trách công tác trí vận của Thành uỷ. Tôi nhớ trong lần gặp đầu tiên, chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Việt pha trộn với tiếng Pháp. Tôi biết tên tuổi anh Thọ đã lâu. Anh lớn tuổi hơn tôi và đậu cử nhân Luật ở Aix-En-Provence (gần thành phố Mác-xây, phía Nam nước Pháp) từ năm anh 26 tuổi. Anh là một luật sư trẻ, có tài hùng biện, luôn vì việc nghĩa, việc thiện và đặc biệt là một trí thức yêu nước sớm. Cũng rất hiếm có một luật sư Việt Nam ở Pháp 13 năm trong thời trai trẻ của những năm hai mươi, ba mươi mà không vô quốc tịch Pháp và như anh thường nói, cũng “không chịu lấy vợ đầm”.

    Năm 1937, anh Ba Thọ từ Pháp trở về Sài Gòn, tập sự tại Văn phòng luật sư Lê Văn Kim tại đường Charles de Gaulle, nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, xế dinh Thống Nhất. Ông Kim là một luật sư nổi tiểng thời bấy giờ, một trí thức có đầu óc chống phát xít. Ông đã tự vẫn khi bị Phát xít Nhật bắt. Cùng tập sự với anh Thọ có cử nhân luật người Pháp, ông Pento. Sau này về Pháp, ông Pento dạy trường Luật và trong một cuốn sách của mình về Đông Dương, đã hết lời ca ngợi Luật sư Nguyễn Hữu Thọ.

    Lúc tôi từ Pháp về, gặp anh Ba Thọ, anh đang dời văn phòng luật sư ở Vĩnh Long về Sài Gòn (trước đó Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã mở văn phòng ở Cần Thơ, rồi Mỹ Tho). Anh về lại Sài Gòn theo chỉ thị của Đảng và mở văn phòng luật sư. Những ngày đó, anh Thọ giúp tôi nhiều trong việc liên lạc với các nhân sĩ trí thức tại Sài Gòn - Chợ Lớn. Bởi vì tôi ở Pháp mới về, tuổi ít hơn anh Thọ nên ngoài một số trí thức đã quen biết như chị Luật sư Bùi Thị Cẩm, Dược sĩ Hồ Thu, Dược sĩ Phạm Thị Yên… tôi chưa có quan hệ với anh chị em khác.

    Ngoài nhiệm vụ chính của Đảng giao là vận động các nhân sĩ trí thức làm cách mạng, anh Ba còn giúp đỡ rất nhiều những người ở chiến khu bị bệnh nặng được bí mật đưa vô thành chữa bịnh. Anh Ba Thọ bố trí anh em ở ngay tại văn phòng luật sư của anh. Có lầ đồng chí Bí thư Thành uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn bị bệnh lao, tổ chức đưa vô chữa trị, anh Thọ cũng bố trí ở ngay văn phòng luật sư cảu mình. Hai ba ngày một lần phải đưa đi nhà thương khám, chữa trị, không hề sợ hiểm nguy, anh Ba Thọ lo chu tất cho đến khi đồng chí Bí thư hết bịnh trở về chiến khu.

    Một công việc khác cũng rất quan trọng mà Đảng giao cho anh Thọ lúc bấy giờ là với cương vị luật sư, anh liên lạc động viên các đồng chí bị địch bắt bỏ tù và tìm cách biện hộ, bào chữa khi chúng đưa ra toà xét xử. Anh Ba đã giành thắng lợi trong nhiệm vụ này - trong số đó, tôi nhớ có một đồng chí của mình bị địch kêu án tử hình, anh Ba Thọ đã cãi bay án tử hành.

    Trong những năm này, Pháp định đưa Bảo Đại về nước để thành lập quốc gia chống Cộng. Làm sao cho trí thức, nhân sĩ hiểu và không ủng hộ chính quyền Bảo Đại. Anh Ba, với tài uyên bác và ngoại giao, đã làm tốt công việc này. Thành uỷ nhận thấy anh Thọ là một người có đầu óc, có trách nhiệm và trung kiên, cương nghị nên đã quyết định kết nạp anh vào Đảng. Tôi nhớ, một buổi tối năm 1949 tại nhà tôi ở số 5 đường Léon Combes (nay là đường Sương Nguyệt Ánh - Quận 1 - Thành phố Hồ Chí Minh) có anh Nguyễn Văn Hiếu, chị Dược sĩ Phạm Thị Yên, chúng tôi đặt ảnh Bác lên bàn và long trọng đọc quyết định kết nạp Đảng của thành uỷ. Anh Ba Thọ xúc động, nghiêm trang tuyên thệ: “Suốt đời trung thành với Tổ quốc và cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp của Đảng.” Khi kết nạp, anh lấy bí danh đảng viên là Phước.

    Năm 1950 là năm phong trào đáu tranh ở Sài Gòn lên đến đỉnh cao, để lại dấu ấn vàng son cho lịch sử, trong đó có công đầu của anh Nguyễn Hữu Thọ. Lúc này, thực dân Pháp đẩy mạnh việc bắt lính xây dựng quân đội nguỵ quyền Bảo Đại nhằm thực hiện ý đò “lấy người Việt đánh người Việt”, làm cho mọi người hiểu nhầm đây là nội chiến của người Việt Nam chứ không phải là chiến tranh chống ngoại xâm mà kẻ thù là Thực dân Pháp. Cũng trong năm này, đế quốc Mỹ bắt đầu xen vào công việc nội bộ của Việt Nam, tiếp tay thực dân Pháp chống Cộng sản Việt Nam. Thảnh uỷ có chỉ thị phải vạch trần âm mưu đó và động viên học sinh, sinh viên cùng tri thức tranh đấu… Cuộc chống bắt lính diễn ra quyết liệt ngay từ cuối năm 1949. Đầu năm 1950, học sinh, sinh viên xuống đường biểu tình. Địch đàn áp dữ dội gây nên cái chết anh dũng của Trần Văn Ơn và ngày 9 tháng 1 năm 1950, đám trang trò Ơn được tổ chức dưới sự tổ chức của Đảng mà người chủ trì là anh Ba Thọ. Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn phẫn nộ, họ bỏ công việc, chợ đóng cửa, công nhân đình công, học sinh nghỉ học. Sài Gòn - Chợ Lớn như thành phố chết về sinh hoạt nhưng hừng hực lửa đấu tranh. Hơn nửa triệu người đi đưa đám trò Ơn. Anh Nguyễn Hữu Thọ cùng các trí thức có tên tuổi như cụ Lưu Văn Lang, Luật sư Trịnh Đình Thảo… dẫn đầu đoàn người tiễn đưa trò Ơn. Trong không khí trang nghiêm ấy, giữa nghĩa trang chật kín người, trong phút vĩnh biệt trò Ơn, anh Thọ đã dõng dạc nêu một câu hỏi làm chấn động Sài Gòn: “Đây có phải cái mà nhà cầm quyền gọi là độc lập, là tự do hay không? Hỡi đồng bào?”.

    - Không, không!

    Nửa triệu người đáp lại lời anh Thọ như tiếng sét giữa sào huyệt địch. Hôm sau, báo chí Sài Gòn đăng gần hết trang nhất ảnh, bài về đám tang trò Ơn và dẫn lời anh Ba Thọ. Nguỵ quyền bù nhìn tức tối lắm nhưng không làm sao được.

    Trước tình hình đó, Thành uỷ quyết định thành lập phái đoàn đại biểu các giới nhằm duy trì và giữ vững phong trào. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được cử làm Trưởng phái đoàn đại biểu các giới. Phong trào ra đời công khai, được nhân dân Sài Gòn ủng hộ. Chúng tôi thì hân hoan lắm vì chúng ta đã có trụ sở, có tổ chức hoạt động công khai giữa Sài Gòn. Phong trào lên như diều gặp gió. Trong lúc đó, nhân vụ hoả hoạn ở Bầu Sen (Chợ Lớn) thiêu cháy 2.000 căn nhà làm cho hàng vạn người không có nhà ở, anh Ba Thọ và phái đoàn các giới, đại biểu các giới đã đi thăm và ra thông báo “Kêu gọi tình đoàn kết và tương trợ của các giới đồng bào đối với tất cả nạn nhân Hoa Việt” trong vụ hoả hoạn ở Bầu Sen. Lời kêu gọi được nhân dân hưởng ứng. Tiếp đó là vụ phái đoàn các giới can thiệp đấu tranh đòi tự do cho 22 trí thức trong vụ án Hội Liên Việt đạt kết quả. Uy tín phái đoàn càng ăn sâu vào lòng người, được mọi người tin yêu.

    Tháng 3 năm 1950, hạm đội Bo-rer của Mỹ ở ngoài khơi Vũng Tày , hai chiến hạm Mỹ cập cảng Sài Gòn, thuỷ thủ Mỹ đặt chân lên đường phố Sài Gòn nhằm tỏ thái độ ủng hộ sự xâm lược của thực dân Pháp và ủng hộ nguỵ quyền Sài Gòn.

    Được chỉ đạo của Thành uỷ, Phái đoàn đại biểu các giới quyết định tổ chức một cuộc biểu tình lớn. Sáng 19 tháng 3 năm 1950, cuộc biểu tình phản đối sự can thiệp của đế quốc Mỹ đã nổ ra giữa Sài Gòn. Trung tâm điểm là trường Tôn Thọ Tường ở đường Galieni (nay là trường Ten-lơ-man ở đầu đường Trần Hưng Đạo), hàng chục ngàn người xuống đường. Anh Thọ đi chiếc Citroen mày đen, tôi còn nhớ rõ bảng số NBA 377, để đến tham dự cuộc biểu tình. Nhiều trí thức đã đến dự cuộc mít tinh này. Dân chúng trương biểu ngữ “Hồ Chí Minh muôn năm”, “Đả đảo bù nhìn bán nước”, “Đả đảo đế quốc Mỹ”, “Tàu chiến Mỹ phải rút khỏi Việt Nam cấp kỳ.” Anh Ba Thọ diễn thuyết được mọi người hưởng ứng, hoan hô nhiệt liệt. Anh nói gần xong thì cảnh sát kéo đến. Chúng ném lựu đạn cay giải tán mít tinh. Dân chúg, nhất là sinh viên học sinh, chống trả quyết liệt. Sài Gòn như có một cuộc chiến nổ ra. Xe hoi Nha thông tin nghuỵ bị sinh viên lật ngửa, đốt cháy ngay bùng binh Chợ Bến Thành. Một đoàn tàu hoả chở củi về đến ga bị chặn lại, củi biến thành vũ khí đánh nhau với cảnh sát, Tôi nhớ nhà nhiếp ảnh lão Võ An Ninh đã ghi lại rất nhiều hình ảnh về ngày 19 tháng 3 năm 1950 lịch sử này.

    Nhiều người bị bắt, anh Ba Thọ bị bắt, chiếc xe ô tô bị tịch thu. Chúng đưa anh Thọ về bót Catinát, sau đưa qua khám lớn (nay là địa điểm xây thư viện tổng hợp thành phố) và ghép anh tội: “Bạo động có mục đích…” Anh Ba Thọ tuyên bố dứt khoát: “Phái đoàn đại biểu các giới hoạt động công khai, trong một nước độc lập có dân chủ, thì quyền tự do phải được tôn trọng. Trong các quyền đó có quyền tự do hội họp, không ai có quyền cấm chúng tôi sử dụng quyền đó”.

    Hay tin Luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị địch bắt, nhân dân rất căm phẫn, kéo đến khám lớn để phản đối. Khi anh Ba bị địch đưa ra toà thì anh em đồng bào tụ tập trước khám lớn để đi theo ủng hộ. Hàng trăm luật sư người Việt Nam lẫn người Pháp đã kí tên vào bản kiến nghị đòi trả tự do cho anh Ba Thọ.

    Khi biết anh Ba Thọ tuyệt thực, báo chí đăng rùm beng lên, dân chúng phẫn nộ, phản đối chính quyền bù nhìn. Chẳng những tin này trong nước biết, mà cả phóng viên Pháp cũng viết và gởi về Pháp. Vì vậy, nước ngoài cũng biết về anh Ba Thọ, biết việc anh Ba tuyệt thực. Trước toà, anh Ba dõng dạc tuyên bố: “Tranh đấu đòi quyền công dân của một nước độc lập không phải là có tội”, và toà đã tuyên co anh được tại ngoại có điều kiện, đó là bị quản thúc, phải trình diện. Biết anh Ba Thọ là một ngọn cờ nên Nguyễn Văn Tâm, Thủ tướng của Chính phủ Bảo Đại đã kí một nghị định đày anh Ba Thọ đi Lai Châu giữa năm 1950. Nguỵ quyền Sài Gòn cho rằng đưa đi xa thì mới có thể tách anh ra khỏi phong trào đấu tranh ở Sài Gòn. Chúng cho rằng anh Ba ở xa như vậy, không ai có thể liên lạc được, và không có nguy cơ xảy ra phòng trào đấu tranh của các giới.

    Cuối năm 1952, anh Ba được thả về. Chúng thả anh một cách âm thầm. Chỉ có một số anh em chúng tôi hoạt động bí mật trong thành phố mới biết. Khi về Sài Gòn, anh Ba liên lạc ngay với cơ sở và tiếp tục hoạt động. Năm 1951-1952, địch khủng bố gắt bao, nhiều đồng chí ta bị bắt, trong số đó có các chị Nguyễn Thị Bình (nay là Phó Chủ tịch nước), Đỗ Thị Duy Liên, Thu Trang Công Thị Nghĩa. Anh Ba Thọ được phân công liên lạc, động viên các đồng chí này và tìm cách giải thoát các chị ra khỏi nhà tù. Anh đã làm tròn phần việc nặng nề đó.

    Khi có Hiệp định Genève 1954, Thành uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn quyết định thành lập phong trào bảo vệ hoà bình để đòi thực hiện Hiệp định Genève trở lại. Nhân sĩ trí thức chúng tôi đặt ra vấn đề: Ai có thể đứng ra thành lập phong trào bảo vệ hoà bình và lãnh đạo phong trào này? Ai nấy đều thấy người xứng đáng nhất là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Vì vậy, anh Ba được cử làm Chủ tịch phong trào bảo vệ hoà bình Sài Gòn - Chợ Lớn. Ban lãnh đạo danh dự gồm cụ Trịnh Đình Thảo, cụ Lưu Văn Lang, cụ Đốc phủ Nguyễn Văn Hiệp, Dược sư Nguyễn Văn Hiến là những nhân sĩ lớn tuổi. Phó Chủ tịch là ông Trần Kim Quan. Tổng thư kí là anh Phạm Huy Thông. Anh Phạm Huy Thông lúc bấy giờ là giáo sư bên Pháp mới về. Còn Phó Tổng thư kí là ông Nguyễn Văn Dưỡng, giáo sư trường Luật, về sau ông mất tại Tuy Hoà tỉnh Phú Yên. Thủ quỹ là ông Từ Bá Đước. Trong ban chấp hành có các chị Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Lựu… và một số anh em khác nữa. Phong trào bảo về hoà bình được thông báo cho quần chúng biết công khai. Chiếu theo Hiệp định Genève thì sẽ có tổng tuyển cử hai năm sau. Để có tổng tuyển cử tự do thì các quyền tự do dân chủ phải được tôn trọng, trong các quyền đó có quyền tự do hội họp, quyền tự do lập hội (Liberté d’association). Và ta đã quyết định lập trụ sở công khai ở đường Taberd và xuất bản tờ báo “Hoà bình” để dân chúng thấy rõ lập trường mục tiêu của phong trào bảo vệ hoà bình. Tờ báo giao cho anh Nguyễn Văn Hiếu phụ trách. Phong trào được mọi người hưởng ứng nhiệt liệt không những ở trong nội thành mà cả trong các vùng miền Nam.

    Chúng tôi cùng Luật sư Nguyễn Hữu Thọ gặp các vị trong Uỷ ban quốc tế kiểm soát đình chiến, Đại sứ Ba Lan, Đại sứ Ấn Độ, Đại sứ Canada để nói rõ lập trường của phong trào bảo vệ hoà bình. Nơi nào có vi phạm thì nơi đó gởi thư báo cho chúng tôi biết tại trụ sở. Các thư này Phong trào chuyển kèm theo kiến nghị cho Uỷ ban Quốc tế kiểm soát đình chiến. Phong trào hoạt động sôi nổi. Chính phủ Ngô Đình Diệm thấy rằng để phong trào này tồn tại thì rất bất lợi và nguy hiểm cho chúng. Vì vậy, anh Ba Thọ. anh Nguyễn Văn Dưỡng, anh Phạm Huy Thông bị bắt. Chúng chưa muốn giam vì sợ dư luận, nên yêu cầu anh Ba Thọ kí một số tờ cam kết không hoạt động nữa, giải tán phong trào thì sẽ được trả tự do. Nếu tiếp tục hoạt động thì sẽ bị tống giam. Anh Ba Thọ và những người bị bắt nhất định không chịu kí tờ cam kết đó. Vì vậy, chúng giữ anh Ba, anh Dưỡng, anh Thông, anh Từ Bá Đước. Ngay lập tức, chúng tôi cùng cụ Lưu Văn Lang đến gặp Uỷ ban Quốc tế kiểm soát đình chiến để phản đối và đến gặp Cao uỷ Pháp. Lúc đó, theo Hiệp định Genève: Trong thời gian chưa có tổng tuyển cử thì Chính phủ Pháp, quân đội viễn chinh Pháp phải chịu trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ Hiệp định Genève. Lúc đó Pháp gặp chuyện lôi thôi ở Algérie và muốn rút lui nên Pháp nói rằng không can thiêp được. Uỷ ban Quốc tế kiểm soát đình chiến cũng cho biết không can thiệp được. Và tiếp theo đó, Ngô Đình Diệm cho bắt hầu hết những người của phong trào bảo vệ hoà bình, trong đó có tôi. Anh Ba Thọ và chúng tôi bị giam ở nhà lao Gia Định, có tất cả hơn 10 người, rồi chúng đưa chúng tôi lên máy bay ra an trí tại Hải Phòng (khi đó là khu 300 ngày của Pháp). Chúng tôi lại đấu tranh, và chúng trả về lại Sài Gòn. Nhưng ngay sau đó, chúng đưa anh Ba Thọ ra an trí ở Phú Yên.

    Sau này, tại Pháp tôi được tin Mặt trận Giải phóng ra đời mà chưa có Chủ tịch. Tôi được biết Trung ương và Bác Hồ đã có chỉ thị tìm mọi cách giải thoát anh Thọ ra. Tôi được biết hồi đó, năm 1961, tỉnh Phú Yên đã có “openation militaire” (hoạt động quân đội) của cách mạng để giải thoát anh Ba Thọ ra làm Chủ tịch.

    Năm nay, nước ta tròn 50 tuổi, anh Ba Thọ đã ngoài 85, tôi cũng già yếu. Ngồi nghĩ lại những ngày đã qua, tôi thấy vui về sự đóng góp của số anh em trí thức chúng tôi và hơn bao giờ hết, tôi tự hào về anh Ba Nguyễn Hữu Thọ. Đã 48 năm trôi qua, tôi vẫn nhớ khuôn mặt sáng, thông minh, ánh mắt kiên nghị, giọng nói trầm dịu nhưng kiên quyết, dõng dạc của anh Ba Thọ khi anh tuyên thệ trước chân dung Bác Hồ để đứng vào hàng ngũ Đảng: “Suốt đời trung thành, suốt đời cống hiến cho sự nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Từ đó, đã 4 lần anh Ba Thọ bị địch bắt và hơn 10 năm bị lưu đày, nhưng anh vẫn giữ vững ý chí và đã vươn tới giữ những trọng trách cao cả của Nhà nước, Quốc hội và Mặt trận ở Việt Nam. Đúng là anh đã cống hiến đến hơi sức cuối cùng cho Đảng, cho nhân dân và cho Tổ quốc. Tôi tự hào và khâm phục anh – người bạn lớn, người đồng chí cao cả.
     
    Diên Vĩ thích bài này.
  16. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    ĐÔI NÉT VỀ LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ

    1. CHUYỆN ĐỜI THƯỜNG(1)

    (1) Ghi theo lời kể của Ba tôi, đồng chí Trình Nhe – Cán bộ tiền khởi nghĩa, huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

    Năm 1970, vợ chồng tôi công tác ở Nghệ An ra Hà Nội thăm con, con trai tôi khi ấy được phân công giúp việc Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - lúc đó đang là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và là Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam. Những năm nước nhà bị chia cắt lâu dài, với anh em miền Nam tập kết chúng tôi, Mặt trận Dân tộc Giải phóng là ngọn cờ thiêng liêng, cao qu‎ý mà mỗi chúng tôi khi nhắc đến đều thấy hồn thiêng sông núi trong đó. Vì vậy, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với chúng tôi đương nhiên là Nguyên thủ của cách mạng miền Nam. Tôi và vợ tôi đều quê ở Phú Yên. Vợ tôi bà con với anh Nguyễn Lầu, tức Mười Dũng. Anh Mười trong những năm ra Bắc chữa bịnh đã nói với chúng tôi về việc quân dân Phú Yên giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ mà anh là người chỉ huy trực tiếp. Đó cũng là lý do để chúng tôi được gặp Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Sau lễ tang Bác Hồ, Luật sư đi thăm Trung Quốc, Liên Xô (cũ) về ở lại miền Bắc, hoạt động phải hết sức bí mật, thế nhưng khi biết chúng tôi có mặt ở Hà Nội, Luật sư đã quyết định đến thăm. Khi đồng chí đội trưởng bảo vệc đến nhà gặp tôi cho hay tin, tôi có đề nghị: Nên cho phép chúng tôi đến thăm Luật sư đúng nghĩa hơn. Nhưng Luật sư không chịu, ông nói: “Đã thăm ông bà thì phải đến tận nhà”, và Luật sư đã đến với gia đình tôi rất bình dị, giữa mùa đông, trong chiếc ao bông màu thẫm, cổ quấn khăn len. Năm ấy, Luật sư vừa 60 tuổi, còn khoẻ mạnh, sung sức… Ông ngồi chiếc ghế con trong căn phòng rất nhỏ của chúng tôi đang ở và thân mật hỏi thăm tình hình gia đình tôi. Ông hỏi về vợ con anh Mười Lầu và hỏi chúng tôi có được tin tức gì ở Phú Yên không? Khi vợ tôi nói nhà của cha mẹ chúng tôi và của anh Mười Lầu ở gần mả bà Dũ Ký, Luật sư cười: “Tôi thuộc lòng cái tên đó, đó là nơi đầu tiên tôi gặp quân Giải phóng Phú Yên. Sau này giải phóng được miền Nam, phải trở lại…”. Tuy mới gặp lần đầu nhưng không khí như đã thân quen lâu ngày… Luật sư nói “ông nhớ và cảm ơn nhân dân Phú Yên nhiều lắm”.

    Ít lâu sau đó, Luật sư vào thăm Nghệ An, thăm quê hương Bác Hồ. Trong điều kiện chiến tranh phá hoại chưa dứt, cơ quan tôi sơ tán xa cơ quan Tỉnh uỷ đến vài chục cây số. Và không may, hôm đó tôi đi công tác ở cơ sở, về đến nhà nghe tin Tỉnh uỷ gọi. Tôi đến, mới biết rằng Luật sư Nguyễn Hữu Thọ có yêu cầu Tỉnh uỷ tìm mời tôi về để Luật sư gặp thăm.

    Tôi bồi hồi xúc động, không ngờ rằng Chủ tịch vẫn nhớ đến tôi, một cán bộ Phú Yên đang công tác ở một tỉnh lẻ xa xôi của miền Bắc. Tôi không gặp được Luật sư lần đó, nhưng tình cảm đó cứ lâng lâng trong tôi suốt chặng đường trở về lại cơ quan… Tình cảm đó hun đúc tôi thêm sức mạnh và tôi luôn nhắc mình phải cống hiến tốt hơn vì miền Nam…

    Một lần, Luật sư đi công tác ở Cộng hoà Dân chủ Đức về, ông mua cho cháu nội tôi một chiếc máy bay đẩy chạy được là thứ đồ chơi trẻ con cao cấp. Ông yêu cầu đưa cháu đến, tự tay điều khiển cho cháu xem rồi tặng cho cháu. Ông ngồi nhìn cháu cho máy bay chạy và cười vui.

    *

    * *

    Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi nhiều lần được gặp Luật sư, nhưng có 2 lần gây ấn tượng rất sâu sắc với tôi. Một lần là dịp Luật sư về thăm Phú Yên (tháng 3 năm 1993). Về tới Tuy Hoà, ông nói với con tôi bố trí để Luật sư đi thăm chúng tôi. Biết vậy, tôi liền đột kích sáng sớm đến thăm Luật sư để mong Luật sư khỏi mất thì giờ cho một việc nhỏ. Vừa gặp tôi, ông nói: “Ồ, tôi đang định bố trí đi thăm anh chị”. Tôi thưa: “Không, anh đi đường xa về thăm Phú Yên là quý lắm, chúng tôi đến thăm anh mới phải đạo”. Luật sư cười, ông mời tôi ăn sáng và rủ tôi sau đó đi thăm chị Mười Lầu. Đã 84 tuổi, tuy sức có yếu đi, nhưng Luật sư vẫn tinh tế, ý nhị và sâu sắc. Trước khi tôi chào ra về, Luật sư lấy một gói quà nhỏ trên bàn tặng tôi và nói: “Tôi có chút quà gởi chị và các cháu ở nhà”. Tôi biết trong chuyến về Phú Yên, Luật sư đã gặp đủ anh chị em đã cưu mang, cứu giúp luật sư hơn 32 năm về trước, và mỗi người đều được tặng một gói quà. Mấy người thân thiết, khó khăn anh còn tặng mỗi người một sổ tiết kiệm… Những cử chỉ đó gây ấn tượng và sự xúc động sâu sắc đối với mọi người. Trong những ngày Luật sư ở thăm Phú Yên, chúng tôi theo dõi vô tuyến truyền hình mỗi đêm. Anh em già hưu trí chúng tôi vô cùng tâm đắc và khâm phục nghĩa cử của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, bởi vì trong cuộc sống thiếu gì anh chị em ta chỉ mới được đề bạt một chức vụ kha khá đã tỏ ra quan cách. Và thiếu gì người có hôm nay đã quên hôm qua, quên những bà mẹ, những người chị đã nuôi giấu mình, quên những cơ sở đã đùm bọc mình thời chiến đấu gian khổ, quên cả bạn bè đã từng hạt muối cắn làm đôi. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, đã từng giữ cương vị đứng đầu Nhà nước và Quốc hội, nhưng ông không quên một ai và với những người đã giúp mình, dù là ít hay nhiều, xa hay gần ông đều cảm ơn, “đều coi là những người suốt đời tôi mang ơn”. Tuổi cao sức yếu, nhưng ông không ngồi một chỗ, về Phú Yên ông đi tận thị trấn Củng Sơn (Sơn Hoà), ra Chí Thạnh (Tuy An). Chỉ 4 ngày, ông đã đi 4 huyện thị, thăm nhiều nơi, gặp nhiều người. Có lẽ ít có đồng chí lãnh đạo cao cấp nào về Phú Yên đi nhiều đến như vậy. Dân Tuy Hoà lan truyền mãi hình ảnh Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đi bộ hàng cây số thăm thị xã Tuy Hoà, thăm lại nơi ở ngày xưa. Số người già chúng tôi xác định rằng đó “đúng là nghĩa cả tình cao”, là “uống nước nhớ nguồn”, là nghĩa cử của một người trí thức đầy nhân bản và tình người, nghĩa cử đó là tấm gương cho lớp trẻ.

    Một lần nữa, và cũng là lần cuối cùng tôi được gặp anh Ba Thọ, đó là dịp cuối năm 1994. Lúc này, Luật sư bị tai biến mạch máu não lần thứ 2 mới hồi phục, chưa đi lại bình thường và nói khó… Hôm ấy, tôi bị bịnh sốt cao phải nằm điều trị ở bệnh viện Thống Nhất. Vào đúng ngày Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ phân công con tôi đi công tác Hà Nội, ở nhà, ông quyết định vào bệnh viện thăm tôi. Chú bảo vệ buổi sáng vào thăm, biết chỗ và báo với tôi tin này. Tôi tha thiết đề nghị chú ấy nói lại với Chủ tịch: “Bệnh tôi đã đỡ, xin Chủ tịch đừng đi thăm, nay mai khoẻ ra viện, tôi sẽ đến thăm Chủ tịch”. Nhưng chú bảo vệ lắc đầu: “Thủ trưởng đã quyết như vậy, thì không làm khác được”. Và chiều đó, trong lúc tôi đang truyền dịch thì cửa phòng mở, một chiếc xe lăn đưa Luật sư Nguyễn Hữu Thọ vô thăm tôi. Ông không đi được, phải ngồi xe lăn và nói khó, vậy mà vẫn quyết tâm đi thăm tôi… Chủ tịch thăm hỏi tôi vài câu, với giọng nói đứt quãng và thiếu từ do bệnh nhưng rất sâu sắc. Ông còn dặn tôi, dặn chú bảo vệ và chú bác sĩ đi theo đừng nói cho con trai tôi biết là ông đã đi thăm tôi. Có thể nói đây là lần gặp ngắn nhất nhưng gây cho tôi và gia đình tôi sự xúc động mãnh liệt nhất, để lại trong tôi tình cảm vô cùng thiêng liêng và vô cùng sâu sắc. Tôi nghĩ rằng ngoài tình cảm của ông đối với tôi, còn bao hàm nghĩa cử sâu sắc của ông đối với đồng bào Phú Yên quê tôi.

    TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 12 năm 1996
     
    Diên Vĩ thích bài này.
  17. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100


    PHÚ YÊN, MÙA XUÂN MỚI
    .I.
    Tuy Hoà từ lâu đã đi vào thơ, vào nhạc, đi vào lòng người, để trong những người đi xa và đi qua Tuy Hoà những dấu ấn khó quên. Tuy nhiên, Tuy Hoà cho đến hôm nay chỉ mới là một thành phố loại nhỏ của miền Trung. Tôi có mấy lần được nghe nhắc về Tuy Hoà mà lòng rung động xốn xang và không bao giờ quên được.

    Lần thứ nhất khi còn ở miền Bắc, một hôm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ lúc đó là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, ông vừa đi dự quốc khánh Liên Xô (cũ) trở về, ông cho gọi tôi đến và tươi cười hỏi: “Chú đọc bài thơ “Tuy Hoà quê mẹ”(1) chưa?” Tôi chưa kịp trả lời Luật sư đã nói: “Tôi đọc bài thơ và nhớ Tuy Hoà. Cái gió Nam của Tuy Hoà vừa dữ mà vừa hiền có phải không chú”. Và say sưa Luật sư nhắc lại những kỉ niệm về người, về cảnh Tuy Hoà của những năm ông bị quản thúc ở Phú Yên và cuối cùng là cuộc giải vây đầy mưu trí của quân dân Phú Yên đưa ông ra vùng giải phóng. Ông nói: “Tôi vẫn còn nhớ tên mả bà Dũ Ký là nơi quân Giải phóng đón tôi nhưng bây giờ không hình dung ra nơi đó, sau này giải phóng miền Nam phải đến thăm nơi đó”. Kết thúc câu chuyện Luật sư nói: “Tuy Hoà đẹp lắm, phải xây dựng ở đó thành một thành phố du lịch”. Hơn 20 năm sau Luật sư về thăm Tuy Hoà, đi bộ trên phố Tuy Hoà và ông khẳng định lại: “Tuy Hoà đủ điều kiện xây dựng thành một thành phố tầm cỡ.” Cũng vì lẽ đó mà ông kiên quyết yêu cầu Chính phủ phải giao cảng Vũng Rô cho Phú Yên. Nó phải là một cửa ngõ ra thế giới thông qua đại dương của Tuy Hoà, Phú Yên và của Tây Nguyên.

    (1) Tuy Hoà quê mẹ - Thơ của Văn Công

    Một lần nữa tôi nghe nói về Tuy Hoà đầy ấn tượng. Đó là lần đồng chí Phan Văn Khải lúc đó là Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ tiếp và làm việc với đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh. Hôm đó sau khi nghe tỉnh báo cáo những đề xuất, những dự án mang tính đột phá kích cầu trong đó có dự án khu đô thị Nam thị xã Tuy Hoà, Thủ tướng Phan Văn Khải với một nỗi niềm cới mở, thân mật, và vô cùng vui vẻ, ông đã ủng hộ những đề xuất của tỉnh và Thủ tướng ân cần dặn dò: Tuy Hoà là một trong số rất ít thành phố nằm ven bờ biển của cả nước, lại có trục quốc lộ Bắc Nam đi qua. Tuy Hoà có sông có núi, nó là một thành phố có cảnh quan đẹp, vì vậy phải tính đến việc xây dựng một thành phố đẹp và đẹp lâu dàu để cho thế hệ con cháu sau này không chê trách.

    Với cầu Hùng Vương dự định xây, Thủ tướng nói: Cây cầu này sẽ tôn nét mỹ quan của thành phố, vì vậy phải chọn và xây kiểu cầu thật đẹp, có kiểu dáng độc đáo để không giống bất kỳ cầu nào trên cả nước. Với thành phố Tuy Hoà, ông dặn phải có qui hoạch thật tốt, tránh các nhà hộp, nhà ống cất dọc đường, phải có nhiều vila nhà trước vườn sau… Ông nhắc từng chi tiết nhỏ để Phú Yên khi qui hoạch và xây dựng thành phố Tuy Hoà. Ông đồng ý cho Phú Yên được mời nước ngoài lập qui hoạch để có một thành phố đẹp bền vững cho mai sau.

    *

    * *

    Hôm nay ngồi nhớ lại những kỷ niệm đó, nghĩ về một thành phố Tuy Hoà của 2020-2025 và xa hơn nữa. Thành phố Tuy Hoà đựo xây dựng trải dài từ đèo Cả với núi Đá Bia sừng sững bên biển Đông kéo dài ra đến Bãi Xép cuối xã An Chấn. Một thành phố với cảng Vũng Rô có mức nước sâu 18m cho tàu quốc tế trọng tải 150.000 tấn ra vào, cảng Vũng Rô là một trong số ít cảng Việt Nam quay cửa về phía Nam không bao giờ bị bồi lấp, có 3 bề núi bao bạo nên luôn luôn gió im lặng sóng, lại là cảng gần đường hàng hải quốc tế vào loại nhất Việt Nam. Là nơi đón bình minh sớm nhất nước, nơi ghi dấu ấn lịch sử bởi huyền thoạt của con tàu không số. Tuy Hoà có sân bay Đông Tác nằm bên bờ biển với đường băng trên 3.000 m, có khu vực tĩnh không rất rộng lượn trên cánh đồng lúa Tuy Hoà 20.000 ha mượt mà bằng phẳng đảm bảo cho các loại máy bay lớn tầm xa hạ cất cánh ngày và đêm. Sân bay Đông Tác mới xây theo mô hình con sò năm bên bờ biển hoàn toàn có thể trở thành sân bay quốc tế cỡ 4E đón các máy bay trực tiếp từ các nước trên thế giới. Tuy Hoà nằm trên trục đường sắt và Quốc lộ 1, lại có đường nối liền Đắc Lắc và Gia Lai. Lịch sử mãi ghi dấu ấn về đường 7 từ Plâyku về Tuy Hoà đã đánh tan cả binh đoàn nguỵ khi tháo, góp phần vào chiến công giải phóng Tây Nguyên, giải phóng miền Nam. Đó là con đường nối Tuy Hoà – Phú Hoà – Sơn Hoà – A Yun Ba và Plâyku. Từ đó nối Kon Tum, Tây Cảnh và Bờ Y cửa ngỏ của Ba biên giới Việt Nam – Campuchia – Lào. Đây là trục đường duy nhất vượt qua Trường Sơn Đông nối đường Hồ Chí Minh, nối ngã 3 biên giới mà không có đèo dốc hiểm trở. Đường bộ lên Đắc Lắc cũng chỉ hơn 150 km và cũng không có đèo dốc cao, rất thuận tiện cho việc xây dựng đường sắt nối thông Tây Nguyên ra biên Đông. Tuy Hoà là cửa ngõ về hàng hải và hàng không quốc tế cho Tây Nguyên và vùng Ba biên giới. Phía Nam Tuy Hoà là vùng công nghiệp với các dự án vừa là lớn. Cùng với các khu công nghiệp Hoà Hiệp, nhà máy lọc dầu, khu Nam Tuy Hoà sẽ là thành phố công nghiệp phát triển. Phía Bắc thành phố Tuy Hoà và Nam Tuy An là vùng du lịch biển, du lịch sinh thái với dự án khu du lịch liên hợp cao cấp của Hàn Quốc, dự án Trường đua ngựa quốc tế của Úc và dự án khu du lịch sinh thái Sao Việt, Sao Mai đang hoạt động và phát triển.

    Khu du lịch Sao Việt sau nhiều năm xây dựng đã khai thác và được công nhận chuẩn 5 sao. Sao Việt, Núi Thơm là điểm chào đón, điểm dừng chân của lữ khách. Là nơi ngủ dưới tán rừng có tiếng chim kêu thanh thót và yên tĩnh ngắm nhìn biển trời lộng gió, là khu du lịch tắm dưới chân thác đổ, có khu Spa cao cấp với giường nóng Zennova. Có cà phê vường, có nhà hàng thuỷ đặc sản. Ở đây có vườn thú hoang dã bán tự nhiên. Du khách có thể ngồi xe điện để vòng quanh núi. Khu du lịch Núi Thơm là nơi đón bình minh và trăng rằm vào loại sớm nhất nước. Bờ biển An Phú là khu Sao Mai và khu du lịch phức hợp cao cấp sẽ mọc lên nhiều khách sạn, vila cao cấp, có cả sân golf và khu vui chơi nước hấp dẫn. Và mới đây, Sao Việt phối hợp với Huesa toàn cầu đã xây dựng quảng trường năng lượng sinh học để tạo sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng nâng cao sức khoẻ bằng năng lượng sinh học. Rồi tới đây, Bãi Xép, Hòn Chùa tâm điểm của một khu du lịch biển, có khu săn lặn, câu cá, có bến du thuyền. Và ở gành Bà sẽ là khu vila cao cấp nổi trên biển, khách sẽ ngủ và nghe sóng rì rào ru khúc ca quên hương Phú Yên. Khu vực từ gành Ông đến Phú Thường sẽ là một sân golf 36 lỗ, một Làng du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp, và một Trường đua ngựa quốc tế của các nhà đầu tư Úc nằm bên bờ biển mịn màng, cát trắng pha lê và nước trong như ngọc bích. Từ đây các tàu du lịch sẽ đưa khách đến Ô Loan, Tiên Châu, gành Đá Đĩa, Vịnh Xuân Đài và “Sông Cầu của đất nước này là thơ”. Tất cả đang khởi động để góp phần đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của Phú Yên.

    Hai vùng kinh tế Nam và Bắc thành phố phát triển mạnh chẳng khác gì hai cánh của một con đại bàng cho thành phố Tuy Hoà , cho Phú Yên cất cánh bay xa. Trung tâm thành phố tỉnh lỵ trong tương lại phải là 2 bên bờ sông Đà Rằng có núi Nhạn tình tự in bóng. Hai bờ sông Đà Rằng ổn định không sợ lũ lụt và chắc chắn thành phố sẽ nằm dọc theo 2 bờ hữu tả của Đà Rằng với 3 cây cầu nối hai bờ vui của thành phố. Một số thành phố vệ tinh như kiểu thành phố thông minh ở Malaysia sẽ mọc lên, chắc chắn sẽ là Phú Hoà, là Chí Thạnh, Tuy An. Và những thành phố vệ tinh của du lịch là Sông Cầu, Sơn Hoà, Sông Hinh. Ngồi trên cánh bay chúng ta sẽ thấy cánh đồng 20.000 ha xanh mượt như những thảm nhung khổng lồ và sông Đà Rằng, các kênh mương của hệ thống thuỷ nông Đồng Cam như những động mạch của một cơ thể sống hiện đại. Đó đây những núi, những hồ và thành phố trải dài trên bờ biển Đông nhẹ nhàng sóng vỗ. Núi Chóp Chài với cột tháp truyền hình trên độ cao 500m của VTV như một biểu tượng của sự vươn lên và thống lĩnh của khoa học trí tuệ. Núi Chóp Chài và Cổ Rùa như một Kim Qui khổng lồ nằm phủ phục quay đầu về trung tâm thành phố mà núi Nhạn là hòn ngọc qu‎ý từ Kim Qui nhả ra để ngày đêm soi bóng xuống Đà Rằng tao nên thiên cảnh núi Nhạn – sông Đà đầy ấn tượng. Theo các nhà phong thuỷ thì hướng ra của Tuy Hoà là trục Đông Nam mà điểm cuối cùng là cảng Vũng Rô và Hòn Nưa, đó cũng là hướng nhìn của Kim Qui, thật là một vùng đất địa linh. Đồng lúa Tuy Hoà đã vươn lên đạt năng suất cao vào loại nhất nước, bãi mía nương dâu ven sông Đà Rằng sẽ thay thế bằng vùng rau sạch cho thành phố Tuy Hoà và Bình Kiến, Hoà Kiến, Ngọc Lãng… sẽ là vùng hoa chuyên canh của thời kỳ kinh tế phát triển. Vùng Hoà Trị, Hoà Quang, Hoà Thành và vùng Nam Tuy An… là vùng cây ăn trái của thành phố trung tâm. Biển Phú Yên với sản lượng cá ngừ đại dương và tôm hùm nhiều nhất nước. Cùng với các loại tôm sú, tôm đất, cá cơm ngần, ốc nhảy, sò huyết, cua, ghẹ, nghêu và lươn, ếch, ốc bươu đồng ruộng Tuy Hoà, Tuy An là đặc sản của các món ẩm thực mà du lịch thế giới ưa thích. Cảng Vũng Rô, sân bay Đông Tác sẽ đưa Tuy Hoà cất cánh, nối vòng tay lớn với năm châu bốn biển.


     
    Diên Vĩ thích bài này.
  18. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    PHÚ YÊN, MÙA XUÂN MỚI
    .II.
    Chiếc máy bay của Hàng không Việt Nam hạ độ cao lượn từ Sông Cầu bay dọc biển Phú Yên rồi vòng trên đồng lúa Tuy Hoà để hạ cánh xuống sân bay Đông Tác. Nhìn những vịnh, những đảo, những bờ biển quanh co uốn lượn vô cùng xinh đẹp và kỳ vĩ của quê hương, càng kỳ vĩ hơn bởi những gành, những núi nhô ra biển tạo nên những bức tranh khổng lồ sơn thuỷ hữu tình, lòng tôi bồi hồi khấp khởi.

    Hôm nay đi giữa những hàng hoa anh đào đang hé nụ và vườn đầy sắc xuân của khu du lịch sinh thái Sao Việt đạt chuẩn 5 sao, tôi nghĩ về những mùa xuân của Phú Yên, của Tuy Hoà.

    Phú có nghĩa là giàu có, phú qu‎ý . Yên có nghĩa là an, an bình và yên tĩnh, với Phú Yên sự yên tĩnh đến sâu lắng. Mùa xuân đã về với mảnh đất miền Trung xinh đẹp và khiêm nhường này. Tôi nói khiêm nhường bởi vì vẻ đẹp kiều diễm của Phú Yên so với cả nước Việt Nam thì sự đặc sắc không thua kém tỉnh nào. Tôi đã đi nhiều nước trên thế giới thấy biển Phú Yên không thua kém những vùng biển du lịch của các nước. Nói đúng hơn là đẹp hơn nhiều các bãi biển của Pháp, của Đức, của Algeria, của Nga… Một tỉnh có 200 cây số bờ biển với rất nhiều đầm vịnh, nhiều bãi cát trắng phau, nước xanh biên biếc tạo ra nhiều bãi tắm thần tiên. Nào là bãi Nồm, bãi Ôm, bãi Xép, bãi Dài, bãi Từ Nham, bãi Tiên… Và cũng trên bờ biển này, gành Đá Đĩa một kiệt tác của thiên nhiên từ phun trào núi lửa tạo nên những vỉa đá xếp ngay ngắn như có bàn tay con người, gành đá nằm nhô ra biển rất kiêu hãnh và cũng rất sinh thái. Thế giới chỉ có vài nơi như thế này. Tôi đến mỏm đá đầu rồng của đảo Jeju Korea, cũng hiện tượng địa chất giống như đá đĩa Phú Yên nhưng nó là điểm đến du lịch, mỗi năm đón hàng triệu khách thăm quan. Gành Đá Đĩa là danh thắng nhưng vẫn nguyên sơ vắng vẻ. Những danh thắng của Phú Yên, những bãi cát mịn màng của Phú Yên là những huyền thoại lắng đọng trong mỗi con người. Phú Yên có 18 danh tích thắng cảnh cấp quốc gia. Trong đó có nhiều di tích lịch sử, di tích nghệ thuật. Phú Yên là quê hương bộ kèn đá độc nhất vô nhị của Việt Nam cùng với bộ đàn đá cũng ở Tuy An có từ 2000 năm trước. Phú Yên có nhà thờ Mằng Lăng là một trong những nhà thờ đá cổ nhất Việt Nam còn lưu giữ được bộ sách của người khai sinh chữ quốc ngữ Việt Nam Alexandre de Rhodes, bộ sách in từ 350 năm trước đây, cùng là cuốn sách chữ quốc ngữ lớp đầu tiên của Việt Nam. Làn điệu dân ca bài chòi Phú Yên mới được công nhận là di sản quốc gia.

    Phú Yên có 6 địa danh lọt vào Top Việt Nam bình chọn năm 2014 gồm: Hải đăng Đại Lãnh nơi đón bình minh sớm nhất nước, Gành Đá Đĩa, Vịnh Xuân Đài, Vịnh Vũng Rô (hai vịnh này nằm trong top 10 vịnh đẹp Việt Nam). Tháp Nhạn có từ 1000 năm nằm bên dòng sông Đà Rằng tạo nên cảnh “Núi Nhạn sông Đà”, (năm thắng cảnh này mới được bình chọn nằm trong số 18 di tích cấp quốc gia). Riêng đèo Cù Mông của Phú Yên được chọn vào top 5 ngọn đèo nổi tiếng Việt Nam. Các nhà nghiên cứu năng lượng sinh học còn xếp Thạch Bi sơn (núi Đá Bia) và núi Chóp Chài là nơi giàu năng lượng sinh học cho con người vào bậc cao của nhân loại.

    Phú Yên còn nổi tiếng bởi hải sản như cá ngừ đại dương, sò huyết Ô Loan, tôm hùm, ốc nhảy, v.v… Có thể nói Phú Yên có nền văn hoá ẩm thực rất phong phú, mới đây sò huyết Ô Loancá ngừ đại dương của Phú Yên được công nhận là món ẩm thực ngon của đất nước.

    Kiều diễm và giàu tiềm năng như vậy, nhưng Phú Yên vẫn còn hoang sơ mà tôi gọi là tĩnh lặng, là sâu lắng của Phú Yên. Phú Yên chưa phải là điểm đến của du lịch thì quả là một sự khiêm tốn trong tĩnh lặng. Phú Yên hoàn toàn hội tủ đủ yếu tố trở thành điểm đến trong tốp đầu của du lịch Việt Nam và thế giới.

    Phú Yên từ bao năm chỉ chủ yếu là nông nghiệp, ngư nghiệp. Chúng ta có kho lúa bởi cánh đồng Tuy Hoà, có hệ thống thuỷ lợi với đập đồng cam lấy nước sông Ba rất đảm bảo cho mùa vụ, có biển bạc hàng năm cho 5-6.000 tấn cá ngừ đại dương và hàng vạn tấn tôm cá… Biển rộng, bờ biển nơi đất liền cực Đông của Tổ quốc có nước xanh trong, cát trắng và nắng ấm. Làm sao để dân ta có thể được no ấm hơn, giàu có hơn, hạnh phúc hơn . Một vị lão thành nguyên là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nói với tôi rằng: “Phú Yên là một tỉnh có nông nghiệp hoàn chỉnh vì có nông nghiệp rừng, nông nghiệp biển và nông nghiệp ruộng đồng. Tuy nhiên, nông nghiệp khó tạo ra đột phá để giàu có nếu không có công nghệ cao, nhất là công nghiệp chế biến”. Tôi tán thành ý kiến của ông và nói thêm rằng: “Cái đột phá có thể giúp Phú Yên đi nhanh, tôi nghĩ là dịch vụ và du lịch”. Ông tán thành với tôi: “Du lịch phát triển sẽ đưa nông nghiệp Phú Yên lên tầm cao.”

    Phú Yên là đất của tiềm năng du lịch, một vùng đất mới hấp dẫn đang còn nguyên sơ, tinh khiết, hoàn toàn đủ điều kiện để phát triển du lịch. Hôm rồi, trong chuyến công tác ở Moscow (Nga) tôi cùng tiến sĩ Nguyễn Quốc Hưng người nghị sĩ từng là Phó Tổng cục trưởng du lịch có cuộc trao đổi sôi nổi với các bạn Ngan là những nhà du lịch, những người trong Hiệp hội du lịch và cả các công ty lữ hành lớn của Nga. Cuộc trao đổi đó có thể tóm ghi lại thế này: “Mùa đông ở xứ Bắc bán cầu chỉ toàn tuyết và tuyết, lạnh lắm. Người Nga rất thích đến Việt Nam để tránh rét, để tắm biển và còn được nhận những tình cảm thân thiện nồng ấm của người Việt Nam. Họ đã đến nhiều vùng biển Việt Nam, và họ thấy Phú Yên có vùng biển tuyệt vời nhất. Nhưng Phú Yên còn thiếu nhiều thứ khách Nga muốn. Người Nga cần được ngủ trên bờ biển, được ăn trưa ngay bãi tắm và được đi tham quan. Tại sao các anh có mỏ nước khoáng nóng mà không có tắm khoáng và tắm bùn? Tại sao đến Gành Đá Đĩa – thắng cảnh hiếm hoi của thế giới mà không được ăn, không được uống để thưởng thức”. Ở Phú Yên còn nhiều cái tại sao. Khách sạn, nhà hàng nhiều thì chưa đủ, phải có nhiều sản phẩm du lịch, nhiều dịch vụ vui chơi giải trí. Hôm đó, tôi cười và nói: “Chúng tôi bán nắng cho các anh nhé”. Một nhà thương gia vồ ngay: “cái quí của các anh là nắng, các anh “xuất khẩu” tại chỗ được mà”. Mọi người cùng cười vui.

    Khách Nga đến Việt Nam ngày một tăng, từ 80.000 tăng lên 200.000 rồi 350.000 lượt khách. Tôi chợt nghĩ nếu Phú Yên dồn sức, nhà nước và doanh nghiệp cùng làm, để đón vài mươi ngàn khách Nga đến Phú Yên. Năm 2016, Phú Yên đã lần đầu tiên đón trên một triệu khách du lịch, đây là con số biết nói báo hiệu du lịch Phú Yên đang cất cánh. Nhà đầu tư Lee Jung Jun nói với tôi: “Hiện nay một năm có dưới 1 triệu khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam, con số đó ngày một tăng. Phú Yên phải đón được 10%, 20% số lượng đó.” Một số chuyến bay thẳng từ Nga, từ Hàn Quốc hạ cánh xuống Đông Tác, mỗi chuyến 250 khách, mỗi tháng vài chuyến bay thì sẽ góp phần đổi thay bộ mặt của Tuy Hoà. Từ trái dừa, củ khoai đến hàng lưu niệm thủ công, đến con cá, con tôm đều có vị trí của nó. Và từ đó ta sẽ có đà để Phú Yên thành điểm đến mới hấp dẫn của du khách mà đặc biệt là khách phương Bắc với sáu tháng không có mặt trời. Một nhà kinh tế nói: “Đi sau có cái thiệt, nhưng sẽ hoàn thiện hơn”. Chúng ta phát triển du lịch sau, trên cái nền thiên nhiên rất trinh nguyên là thuận lợi lớn và nếu chúng ta quyết liệt thì du lịch Phú Yên những mùa xuân tới sẽ phát triển hoàn thiện. Nơi cực Đông của bản đồ chữ S, nơi đón bình minh sớm nhất nước, là mảnh đất đắc địa. Sân bay Đông Tác (Tuy Hoà) có nhà ga mới với đường băng dài hơn 3000m, đủ cho các loại máy bay lớn hạ cánh là điểm ưu việt cho du lịch cất cánh.

    Trước kia dân gian có câu: “Phú Yên tu Phật”, một phần là nói Phú Yên phía Bắc có đèo Cù Mông, phía Nam có đèo Cả, đi lại hiểm trở nên chỉ là đất để tu hành đắc đạo. Câu nói dân gian cũng nói lên: Giao thông khó khăn cản trở kinh tế phát triển. Ngày này, đường hầm (Tuynel) đèo Cù Mông đang làm, đường hầm đèo Cả đã thông sẽ tạo thuận lợi cho sự giao lưu hội nhập phát triển của Phú Yên và cả Bắc Khánh Hoà. Từ nay, đặc khu kinh tế Vân Phong (Khánh Hoà) ra sân bay Đông Tác chỉ có 30 phút ôtô, nó tạo động lực cho cả khu kinh tế Nam Phú Yên, Vân Phong và Bắc Khánh Hoà phát triển.

    Gần đây trên mạng xuất hiện Video clip “Vũng Rô bay” của tập đoàn tỷ phú Mỹ Rockfeller. Họ đã gởi thông điệp sẽ cùng các tỷ phú khác đầu tư một khu du lịch, khu dịch vụ và thành phố mới ở khu Vũng Rô với vốn đầu tư hàng chục tỷ đô la Mỹ ngay dưới chân núi Đá Bia – biểu tượng về ý chí kiên cường của quân dân Phú Yên.

     
    Diên Vĩ thích bài này.
  19. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100

    PHÚ YÊN, MÙA XUÂN MỚI
    .III.

    Từ những thế kỷ trước, sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu: “Thân Dậu niên lai kiến thái bình.”

    Năm 2017 là năm Dậu kết nối với năm Thân 2016 – năm Đại hội Đảng lần thứ 12 mở ra một giai đoạn mới cho sự kiến tạo, đột phá để phát triển và hội nhập.

    Chào Bính Thân qua, chào Đinh Dậu đến, gà vàng đã cất tiếng gáy, bình minh lên trên đất đón bình minh sớm nhất nước, “nàng công chúa” Phú Yên đã thức dậy, xứ hoa vàng trên cỏ xanh đang chuyển mình, những làn mưa xuân lất phất nhẹ, nắng chiều rọi làm long lanh các làn mưa như đang phủ lên vùng đất phú những thảm kim cương. Các loại hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa hồng, hoa mai vàng… đang nở như khoác tấm áo xuân lên vùng đất Phú trời Yên này.

    Tôi đi giữa khu du lịch sinh thái Sao Việt, resort năm sao duy nhất của Phú Yên, nhìn những hàng hoà Anh Đào nghiêng cành nở hoa và những cánh hoa rơi như những thảm màu phủ kín mặt đường mà cứ tưởng lạc giữa xứ Nhật Bản. Hoa Anh Đào là quốc hoa của Nhật Bản, ở Sao Việt, hoa Anh Đào nở dọc đường quanh co uốn lượn, nở giao cành trước các vila khi mùa xuân đến.



    Mùa xuân đến, thăm Sao Việt, điểm sinh thái tiên phong tiêu biểu và xinh đẹp của đất phú trời yên. Dạo dưới những hàng điệp rợp bóng mát, những hàng tầm vông, Anh Đào thong dong ở Sao Việt mới thấy sức lực, ý chí con người là quan trọng. Từ một đồi hoang không nước, không cây, khô cằn sỏi đá, công sức trí tuệ con người đã tạo thành một khu du lịch năm sao cao cấp, rất ấn tượng với nét sinh thái dân dã mà hiện đại. Cả một vùng đồi hoa rực rỡ sắc màu như mâm hoa tết dâng cho đất trời và biển cả. Sao Việt có lẽ là nơi sắc xuân đến 4 mùa. Đứng bên hồ bơi biệt thư Anh Đào nhìn ra Đảo Chùa, nhìn xuống dải đất An Phú kéo dài đến trung tâm thành phố.

    Cát trắng vẫn trải dài, sóng vỗ bờ tạo nên đường viền trắng làm nổi bật bờ biển uốn cong chạy tít về phía núi Đá Bia. Những cánh hoa Anh Đào bay theo gió xuân đưa những mùi hương thơm nhè nhẹ. Những cánh chim yến tung tăng bay lượn như đưa mùa xuân đến, mùa xuân đang về với vùng đất hoa vàng cỏ xanh.

    Tháng 3 năm 2017.
     
    Diên Vĩ thích bài này.
  20. Pansy Hy

    Pansy Hy Cừu thông thái Thành viên BQT

    Bài viết:
    220
    Đã được thích:
    1,023
    Điểm thành tích:
    100


    CỬA HỘI SÁNG XUÂN NAY
    Trân trọng tặng Ba kính yêu của tôi

    Trước mắt ông là dòng sông Lam đang cuồn cuộn chảy. Ngoài xa, đảo Ngư trong nắng chiều nổi bật trên nền biển sẫm như một đôi cá kình bơi trên mặt biển. Ông đi đi lại lại, nhìn bao quát cả khu vực xí nghiệp của ông. Chỗ kia là trụ sở Đảng uỷ, đây là khu chế biến, còn phía bờ sông là bến tàu… Tất cả giờ đây chỉ còn là một vùng đất ngổn ngang những hố bom sâu hoắm. Một cây phia lao của rừng phi lao còn sót lại sau một bức tường đổ. Cây phi lao gãy nhọn, đang nhú những mầm xanh. Ông nghe như máu mình sôi lên. Ông vẫn đi trên mảnh đất mà dù chỉ còn là một mặt bằng trơ trụi thì nó vẫn là cơ đồ, là sự nghiệp của xí nghiệp ông. Ông bước từng bước giữa những hố bom, bỗng dừng lại trước tấm biển nhỏ: “Có bom chưa nổ”. Ông lùi lại, đi tránh ra và mỉm cười thách thức: “Bom nổ ngay còn chưa làm gì được ai, huống chi là bom chưa nổ!” Ông sựng lại trước một cây dừa con – cây dừa mới lên được 6 lá đã bị bom hất trồi lên, nằm ngã nghiêng qua một bên. Cây dừa này chính đứa con trai đầu lòng của ông trồng từ ba năm trước, khi nó lên đường tham gia vào đội quân của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Bây giờ qua những ngày bom đạn khốc liệt, cây dừa vẫn còn sống. Từ cái đọt non xanh tơ đâm thẳng lên một mầm trắng ngà như một lưỡi mác. Ông cúi xuống bới đất đặt lại cây dừa và một quá khứ đầy kỷ niệm sống lại trong ông…

    Quê ông ở tận Phú Yên, tính từ Vinh chạy theo đường số một thì phải gần 1000 cây số. Nếu tàu hoả chạy theo kiểu bây giờ thì ông sẽ ngủ một đêm ở Hồ Xá, một đêm ở Quảng Ngãi và đêm thứ ba thì tàu tới ga Tuy Hoà. Từ đó về vùng biển M‎ỹ Á quê ông chỉ còn mười cây số. Vùng biển Mỹ Á ấy nhiều dừa, nhiều cá và như nhà thơ nào đó đã nói: “Nhiều cả tình thương”. Ông đã lớn lên trên bờ biển ấy. Mười tuổi đã theo cha ra khơi như một ngư dân. Biển từ ngày ấy đã cho ông một tâm hồn phóng kháng và nuôi cho ông chí lớn. Ông tham gia cướp chính quyền năm 1945 từ bờ biển quê hương. Khi Hiệp định Giơnevơ kết thúc 8 năm kháng Pháp, ông xa biển quê nhà, tập kết ra miền Bắc. Những năm tháng ở Hà Nội đối với ông là những năm tháng đầy đủ, sung túc và nếu nói như người dân quê ông là toại nguyện của một đời người vì được làm cán bộ của Bộ Thuỷ lợi Kiến trúc được sống trong lòng Thủ đô của cả nước. Vậy nhưng, Hà Nội không làm ông quên biển. Ông nhớ biển, có những đêm nằm mơ ông nằm trên biển, trên một con thuyền lộng gió… Và cũng chính vì thế, khi Đảng có chủ trương vận động cán bộ miền Nam đi xây dựng kinh tế, đẩy mạnh sản xuất ở miền Bắc, được Ban thống nhất của Trung ương Đảng chỉ đạo, ông liền tập hợp ngay lực lượng cán bộ ở quê ông – trong đó có người chưa ra biển bao giờ và thực hiện nhiệm vụ thành lập một đoàn đánh cá miền nam. Ông đưa cả vợ con về đây, đứa con trai thứ hai của ông bây giờ đang ở chiến trường miền Nam đã lớn lên từ bờ biển này. Cửa Hội này đó xuất hiện nhiều tập đoàn đánh cá miền nam. Những tập đoàn đó mang những cái tên rất gần gũi với những con người miền Nam ở đây. Ngày đó, ông đề nghị mang tên tập đoàn của mình là An Chấn. An Chấn chính là một xã cách mang anh hùng của tỉnh Phú Yên, là quê hương của ông và của anh em.

    Những ngày đó biết bao gian khổ. Họ tự làm lấy nhà, làm lấy mành lưới – Họ đóng thuyền theo kiểu miền Nam với cái mũi nhọn và hai “con mắt sắc như dao cau”. Họ tự mò mẫm làm quen với luồng lạch sông nước ở đây. Những cán bộ, bộ đội dã đi khắp đó đây của hai Nam Bắc giờ là những ngừoi lao động đánh cá. Kinh nghiệm cha ông mà họ mang theo được từ miền Nam và ý chí của những người cách mạng đã giúp họ vượt qua mọi khó khăn đó. Sau thời gian các tập đoàn đánh cá ổn định, Trung ương chủ trương các tập đoàn miền Nam hợp lại thành xí nghiệp đánh cá, một xí nghiệp đánh cá lớn của ngành thuỷ sản miền Bắc. Họ đã xây dựng trên mảnh đất dường như hoang vu này một dinh cơ rất to lớn. Một khu nà ba tầng – một phân xưởng chế biến nước mắm ngon nổi tiếng, một xưởng cơ khí sửa chữa và một cầu tàu cho những đội tàu đánh cá vào ra cập bến.

    Vậy mà, giờ đây, sau hai cuộc phá hoại dã man của đế quốc Mỹ, mọi cái đều bị san bằng. Ông lấy thêm đất cho cây dừa non, ông mỉm cười đứng dậy, ngắm nghía. Nó như một biểu tượng về sức sống của quê hương, gia đình và của xí nghiệp. Nó sẽ mọc lên ở đây xen với nhà cửa, xưởng máy và bến tàu.

    *

    * *​

    Một chiếc trực thăng mang quốc tịch Hoa Kỳ từ ngoài khơi bay vào xí nghiệp, bay chậm dần và hạ cánh cách chỗ ông vài trăm mét, bụi cát bay tung mù lên, từ trong chiếc máy bay ấy, bốn thằng Mỹ bước ra. Thằng nào cũng mặc độc chiếc quần soóc và chỉ mỗi một thằng mặc áo sơmi, còn ba thằng kia đều ở trần để cả lông lá đen sì. Chúng chui vào ngôi nhà tranh mà xí nghiệp cất làm trụ sở của Ban kiến thiết cơ bản. Chúng nó là những thằng giặc thua trận, theo sự cam kết các bên đã kí ở hội nghị Paris, bây giờ chúng đến để vớt mìn do chúng thả trên cửa biển này.

    Cũng là những thằng Mỹ, mà biết đâu những thằng Mỹ này hôm qua lại chẳng đi thả bom, thả mìn xuống vùng biển Cửa Hội chúng ta. Chon nên, dù hắn có cố cười đi nữa thì cái cười đó đối với ông vẫn mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Dù cho cái thằng lùn lùn, béo béo đeo kính cận kia cố nói bằng tiếng Việt với cái giọng lơ lớ Đà Nẵng:

    - Chúng tôi là người Mỹ đi vớt mìn…

    Thì trong ông vẫn chưa nguôi cơn giận. Ừ, biển của chúng tao, chúng mày đến thả mìn, thì chúng mày phải vớt. Việc làm ấy ít nhất cũng chứng tỏ chúng mày vẫn chưa mất hết lương tri. Dân chúng tao không hàm ơn gì về cái việc làm đó của chúng mày. Chúng mày đi rà, đi phá những quả mìn chưa nổ, còn những quả đã nổ rồi, những hố bom và những xóm làng bị phá kia, những con người đã mãi mãi nằm dưới lòng đất , lòng biển vì bom đạn, thuỷ lôi của chúng mày thì chúng mày nghĩ thế nào? Hôm chúng nó mới đến, ông đã gặp và hôm ấy ông im lặng – sự im lặng của lòng căm tức. Nhưng khi nhìn những chiếc trực thăng kẻ cờ Hoa Kỳ lủi thủi kéo những ống phuy to tướng, nặng trĩu – như kéo món nợ nghìn đời quần lượn suốt ngày trên biển để dò, phá mìn, thuỷ lôi thì ông nguôi giận. Đó cũng là một cách trừng phạt với chúng nó. Mấy lần ông định gặp để nói với chúng nó một câu, nhưng không sao có thể nói được, ông chỉ ném cho chúng một cái nhìn. Những thằng Mỹ to béo cũng sợ cái nhìn đó của ông.

    Hôm nay, ông quyết định sẽ đến và sẽ nói chuyện với chúng nó, sẽ hỏi thêm nó nghĩ gì khi đi làm việc này. Thế nhưng khi đến nơi, gặp ông chí sĩ quan liên lạc của ta thì ông thấy lòng nguôi đi. Lòng nhân đạo của con người mang chính nghĩa và chiến thắng đã làm ông bớt giận. Ông hỏi đồng chí sĩ quan liên lạc xem có cần gì sự hỗ trợ của xí nghiệp không? Về tình hình các luồng lạch như thế nào? Một sĩ quan Mỹ, vẫn cái tay lùn đeo kính trắng biết nói tiếng Viết ấy đến gần ông, như muốn được kể công. Hắn cố làm ra vẻ lịch sự nói:

    - Xin chào, chúng tôi sắp “hồn” thành (hoàn thành) luồng ra vào cho tàu các ông “rùi đoá” (rồi đó).

    Hắn tưởng rằng hắn sẽ được ông nói một câu “cảm ơn” theo cái kiểu “rất Mỹ” của hắn. Nhưng ông chỉ nhìn hắn và hồi lâu mới đáp:

    - Các ông làm như vậy là quá chậm. Các ông thấy, không có các ông thì tàu bè chúng tôi vẫn ra vào lạch!

    Tay sĩ quan Mỹ cúi đầu nhìn xuống…

    *

    * *
    Cuộc họp đêm qua của Ban thường vụ Đảng uỷ mở rộng đã quyết định: Phải tạo mọi điều kiện để thực hiện chỉ tiêu của Tổng cục Thuỷ Sản là vừa thu dọn những đổ nát do bom đạn gây ra, nhanh chóng dựng lại, vừa tổ chức bám biển sản xuất – nhất là vụ cá Nam này. Cuộc họp đó đối với ông – người Bí thư Đảng uỷ - cũng gần giống như cuộc họp ngày giặc Mỹ đến đánh phá. Đảng uỷ đã quyết định “vẫn bám biển để sản xuất”. Ông thấy lòng vui, phấn khởi, một sự sống trẻ trung đến với ông, mái đầu điểm sương của ông như xanh lại. Sáng nay ông dậy sớm và ra biển. Biển còn ngủ, những con thuyền của hợp tác xã địa phương và những đôi tàu Việt Đức, Đông Phong của xí nghiệp ông vẫn còn nằm trong bến. Chiếc cầu tàu bị bom tấn Mỹ dội xuống nham nhở, đứt quãng tưởng như vô dụng. Thế nhưng, xí nghiệp đã lát tre làm một chiếc cầu treo dã chiến và tàu đã cập bến được. Ông nhìn những con tàu dường như khó có chiếc nào nguyên vẹn. Mảnh bom, mảnh pháo Mỹ găm vào mạn tàu, găm vào cột, vào buồng ngủ của anh em thuỷ thủ. Nhưng con tàu ấy vẫn như những chim biển kiên cường trong bão tố. Thằng con trai ông, ngày ở nhà nó rất thuộc thơ. Nó hay đọc cho ông nghe bài thơ “Chim báo bão” của Gorki:

    “Chim báo bão vẫn kêu gào

    Trong tiếng ào ào cơn phẫn nộ.”

    Giờ đây những cơn phẫn nộ ấy đã qua rồi, những cánh chim hải âu của xí nghiệp ông đã “tề tựu” về đây nhưu đứng vào đội ngũ chuẩn bị hành quân ra trận.

    Ngoài xa, ở phía đảo Mát, mặt trời sắp lên – một vầng hồng sáng rực ở chân trời xa làm nổi bật đảo Ngư và đảo Mát như hai chiến hạm. Mấy đôi chim hải âu như được gọi dậy sớm hơn, chúng sải cánh bay lượn một chập rồi sà xuống mặ nước đớp mồi.

    Bình minh đã lên – Cửa sông Lam ửng màu huyết dụ, thuyền bè căng buồm đón gió ra khơi. Ông quay về phòng phát thanh. Hôm nay là ngày “mở hội thao vụ cá Nam thắng Mỹ”. Hệ thống loa mới bắt đêm qua đã truyền đi bài nhạc buổi sớm chào bình minh của Đài tiếng nói Việt Nam, tiếng nhạc rộn ràng, tưng bừng vang trên khoảng đất dường như hoang vắng này một cái gì thiêng liêng đặc biệt. Ông bước đến cầm lấy mi-cờ-rô. Ông đằng hắng lấy giọng mà thấy lòng tràn ngập xúc động. Nỗi xúc động này không khác gì lần ông đứng lên phát biểu trong ngày thành lập xí nghiệp hơn mười năm về trước. Lần đó ông cảm động vì mồ hôi nước mắt của anh em miền Nam về đây đã thành hoa, thành quả. Còn lần này thì nỗi xúc động với những ‎ý nghĩa và một chiều sâu khác hẳn. Đây là một bước ngoặc lịch sử về niềm tự hào dân tộc, về một bước đi mới. Nhiều thuỷ thủ của ông đã ngã xuống hoặc mang trên người những thương tích trong cuộc chiến đấu. Những cơ đồ mười mấy năm qua, của anh chị em ở đây giặc Mỹ đã tàn phá sạch. Nhưng, biển vẫn là của ta, đất trời này vẫn là của ta. Sự sống trong từng con người , trong từng thuỷ thủ chính là mầm sống của cuộc chiến đấu vừa qua và cho bước đi sắp tới.

    Ông nói rước mi-cờ-rô những lời từ tim, từ gan mình. Có lúc ông như nói với chính mình… Ông muốn nói với thuỷ thủ ông về những ngày mai…

    “Tất cả cho vụ cá Nam thắng lợi”. Băng, khẩu hiệu được kẻ to treo ngay trên bến cảng. Mấy chục con tàu nhấp nhô, dập dềnh theo sóng, như sốt rượt về giờ rời bến. Anh em thuyỷ thủ ội vã, khẩn trương chuẩn bị, họ thao lại lưới, kiểm tra nước, chuẩn bị dầu, thử lại máy. Anh hoa tiêu trẻ lau lại la bàn, bộ phận hậu cần khiêng xuống tàu nào rau, thịt, đường, chè, thuốc lá… Họ gọi nhau, giục nhau hối hả, có anh vừa chăng lại dây chằng cột tàu vừa say sưa hát bài “Xa khơi”:

    “…Ôi mênh mông sóng xô

    đưa thuyền ta xa bờ,

    Phong ba sóng cồn,

    lòng ta luôn mong chờ…”

    Ông nhìn mặt biển phẳng lặng mà thấy lòng thênh thang. Như vậy đó, trong cuộc chiến đấu mới, xây dựng lại gần như từ đầu của xí nghiệp ông còn sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng ông yên tâm và tin tưởng vì đội ngũ bây giờ sung sức hơn, là một đội ngũ công nhân đã trải qua những ngày thử lửa chiến đấu. Lớp trẻ đã lớn lên về tầm vóc và nhận thức. Hơn lúc nào hết, ông gửi gắm mãnh liệt vào lớp trẻ đầy lửa lòng và giàu trí thông minh này. Phải rồi, cua phải lột vỏ, rắn phải thay da. Cái cũ, cái lỗi thời phải bỏ đi. Cái tiên tiến, cái hiện đại, mới là cái cần tồn tại và phát triển.

    *

    * *
    Đoàn tàu đang hiên ngang trên biển. Đảo Ngư và Cửa Hội cùng với cả một bến bờ cong cong chạy dài xanh những phi lao như cánh tay vĩ đại của đất mẹ dang rộng chờ đón các con tàu ra biển khơi trở về. Ba chiếc trực thăng mang cờ Mỹ vẫn tiếp tục kéo cái ông phuy nặng trĩu đi dò phá mìn đang quần lượn trên mặt biển mênh mông tấp nập thuyền bè. Ông hết nhìn biển lại nhìn đất liền Cửa Hội và nghĩ tới ngày mai, trong tương lai nơi đây, thành phố Vinh sẽ kéo dài đến bờ biển này. Con tàu của ông đang rẽ nước chạy nhanh, sóng nước như hai cánh tay dịu dàng dang rộng nâng con tàu lên trên biển mênh mông.

    Cửa Hội – Nghệ An, Xuân 1974.
     
    Diên Vĩ thích bài này.
Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.

Chia sẻ trang này