Chuyển ngữ Cổ thi: Bản sắc thi ca - Nhiều tác giả

Thảo luận trong 'Tác phẩm phương Đông' bắt đầu bởi Lạc, 8/5/19.

  1. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Độ Kinh Môn Tống Biệt
    Tác giả: Lý Bạch
    ***​


    渡荊門送別

    渡遠荊門外,
    來從楚國遊。
    山隨平野盡,
    江入大荒流。
    月下飛天鏡,
    雲生結海樓。
    仍憐故鄉水,
    萬裡送行舟。

    Độ Kinh Môn tống biệt

    Độ viễn kinh môn ngoại,
    Lai tòng Sở quốc du.
    Sơn tuỳ bình dã tận,
    Giang nhập đại hoang lưu.
    Nguyệt hạ phi thiên kính,
    Vân sinh kết hải lâu.
    Nhưng liên cố hương thuỷ,
    Vạn lý tống hành chu.

    Dịch nghĩa

    Vượt ra xa hẳn ngoài núi Kinh Môn
    Lại ngoạn du vùng Sở quốc
    Núi dài thẳng tắp miền đồng bằng
    Sông đổ vào chốn đồng hoang bao la
    Trăng chiếu rọi xuống như gương trời bay
    Mây kết tụ tạo thành lầu đài trên mặt sông
    Vẫn nhớ thương dòng nước chốn quê xưa
    Đã đưa tiễn thuyền ta ra đi muôn dặm.
    (Năm 724)
    Núi Kinh Môn ở huyện Nghi Đô, tỉnh Hồ Bắc.

    Bản dịch: Tiễn Biệt Ngoài Kinh Môn

    Vượt dặm ngoài xa núi Kinh Môn​

    Sở quốc rong chơi tường khắp chốn
    Núi dài thẳng tắp bình nguyên trải
    Sông tràn biếc rộng đổ đồng hoang.
    Trăng sáng như gương trời uốn lượn
    Lâu đài mây tụ bóng sông buồn
    Dòng nước như thương về quê cũ
    Lướt thuyền tiễn biệt khách ngàn muôn.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu
     
  2. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Độc Tọa Kính Đình Sơn
    Tác giả: Lý Bạch
    ***

    獨坐敬亭山

    眾鳥高飛盡,
    孤雲獨去閒。
    相看兩不厭,
    只有敬亭山。

    Độc toạ Kính Đình sơn

    Chúng điểu cao phi tận,
    Cô vân độc khứ nhàn.
    Tương khan lưỡng bất yếm,
    Chỉ hữu Kính Đình sơn.

    Dịch nghĩa

    Bầy chim bay đi hết,
    Đám mây lẻ một mình lững lờ.
    Nhìn nhau mãi không chán,
    Chỉ có núi Kính Đình.

    (Năm 753)

    Bản dịch:
    Ngồi một mình ở núi Kính Đình

    Chim đàn tung cánh chẳng hay tin
    Mây trôi lơ lửng lẻ riêng mình
    Chán chi nhìn ngắm lòng thanh tịnh
    Duy chỉ cùng ta với Kính Đình.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu
     
  3. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Thu Phong Từ
    Tác giả: Lý Bạch
    ***

    秋風詞

    秋風清,
    秋月明。
    落葉聚還散,
    寒鴉棲復驚。
    相思相見知何日,
    此時此夜難為情。

    Thu phong từ

    Thu phong thanh,
    Thu nguyệt minh.
    Lạc diệp tụ hoàn tán,
    Hàn nha thê phục kinh.
    Tương tư, tương kiến tri hà nhật?
    Thử thì thử dạ nan vi tình...

    Dịch nghĩa

    Gió thu thanh,
    Trăng thu sáng.
    Lá rụng lúc tụ lúc tán,
    Quạ lạnh đang đậu bỗng rùng mình.
    Nhớ nhau không biết ngày nào gặp?
    Lúc ấy đêm ấy chan chứa tình.

    Bản dịch: Thu Phong Từ

    Bản 1

    Gió thu trong
    Trăng thu sáng
    Lá rụng hợp rồi tan
    Quạ đậu chợt giật mình
    Tương tư chẳng hay ngày gặp lại?
    Lòng này đêm ấy chứa chan tình.

    Bản 2

    Gió trong thanh thoát một đêm thu
    Trăng sáng tựa gương chẳng mây mù
    Lá rơi thiết nghĩ tàn hay tụ
    Quạ lạnh giật mình thoáng âm u
    Tương tư thử hỏi ngày gặp lại
    Lòng này đêm ấy vẫn còn lưu.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu

    ***Lần đầu thử viết lại theo phong tác của tác giả. Bởi thật sự chẳng biết phóng tác thể loại ra thế nào...

     
  4. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Bạch Đầu Ngâm
    Tác giả: Lý Bạch
    ***

    白頭吟

    錦水東北流,
    波蕩雙鴛鴦。
    雄巢漢宮樹,
    雌弄秦草芳。
    寧同萬死碎綺翼,
    不忍雲間兩分張。
    此時阿嬌正嬌妒,
    獨坐長門愁日暮。
    但愿君恩顧妾深,
    豈惜黃金買詞賦。
    相如作賦得黃金,
    丈夫好新多異心。
    一朝將聘茂陵女,
    文君因贈白頭吟。
    東流不作西歸水,
    落花辭條羞故林。
    兔絲固無情,
    隨風任傾倒。
    誰使女蘿枝,
    而來強縈抱。
    兩草猶一心,
    人心不如草。
    莫卷龍須席,
    從他生網絲。
    且留琥珀枕,
    或有夢來時。
    覆水再收豈滿杯,
    棄妾已去難重回。
    古來得意不相負,
    只今惟見青陵臺。

    Bạch đầu ngâm

    Cẩm thuỷ đông bắc lưu,
    Ba đãng song uyên ương.
    Hùng sào Hán cung thụ,
    Thư lộng Tần thảo phương.
    Ninh đồng vạn tử toái ỷ dực,
    Bất nhẫn vân gian lưỡng phân trương.
    Thử thì A Kiều chính kiều đố,
    Độc toạ Trường Môn sầu nhật mộ.
    Đãn nguyện quân ân cố thiếp thâm,
    Khởi tích hoàng kim mãi từ phú.
    Tương Như tác phú đắc hoàng kim,
    Trượng phu hiếu tân đa dị tâm.
    Nhất triêu tương sính Mậu Lăng nữ,
    Văn Quân nhân tặng “Bạch đầu ngâm”.
    Đông lưu bất tác tây quy thuỷ,
    Lạc hoa từ điều tu cố lâm.
    Thố ty* cố vô tình,
    Tuỳ phong nhiệm khuynh đảo.
    Thuỳ sử nữ la chi,
    Nhi lai cưỡng oanh bão.
    Lưỡng thảo do nhất tâm,
    Nhân tâm bất như thảo.
    Mạc quyển long tu tịch,
    Tòng tha sinh võng ty.
    Thả lưu hổ phách chẩm,
    Hoặc hữu mộng lai thì.
    Phúc thuỷ tái thu khởi mãn bôi,
    Khí thiếp dĩ khứ nan trùng hồi.
    Cổ lai đắc ý bất tương phụ,
    Chỉ kim duy kiến Thanh Lăng đài.


    Dịch nghĩa

    Dòng nước như gấm trôi về đông bắc
    Trên sóng chấp chới đôi uyên ương
    Con trống đậu trên cây ở Hán cung
    Con mái đùa trong cỏ thơm đất Tần
    Thà cùng nhau chết vạn lần, nát lông cánh
    Chứ không chịu chia lìa nhau trong mây
    Khi A Kiều trong cơn ghen thủa ấy
    Ngồi một mình buồn ngày tàn ở Trường Môn
    Chỉ mong ơn vua thương tới nàng hơn
    Há tiếc hoàng kim mua từ phú
    Tương Như làm phú được hoàng kim
    Trượng phu ưa mới sinh lòng khác
    Một sớm muốn cưới cô gái Mậu Lăng
    Văn Quân nhân tặng “Bạch đầu ngâm”
    Nước đã về đông chẳng quay lại hướng tây
    Hoa lìa cành thẹn với rừng cũ
    Cỏ thố ty vốn vô tình
    Theo gió mà ngả nghiêng
    Ai xui khiến dây cỏ nữ la
    Tìm tới quấn quýt không rời
    Hai loài cỏ, chung một tấm lòng
    Lòng người sao chẳng như cỏ ấy
    Đừng cuốn chiếc chiếu long tu (râu rồng)
    Mặc cho tơ nhện chăng đầy
    Hãy để lại chiếc gối hổ phách
    Biết đâu sẽ có lúc về trong giấc mơ
    Nước đổ đi rồi, há thu lại đầy chén sao
    Chàng khinh bạc bỏ thiếp đi, khó mà quay lại
    Xưa nay khi đắc ý, không ruồng rẫy nhau
    Giờ chỉ còn thấy đài Thanh Lăng mà thôi.

    (Tư liệu: thivien.net)


    Bản dịch: Ngâm Đầu Bạc

    Sông Cẩm chảy xuôi về đông bắc
    Uyên ương đầu sóng quyện đôi vần
    Trống đậu trên cao sào cung Hán
    Mái đùa hương thảo cỏ đất Tần.

    Thà chết một lần tan lông cánh
    Chẳng nguyện chia lìa giữa áng mây
    Cơn ghen A Kiều bao thuở ấy
    Trường Môn cô quạnh hết canh ngày.

    Luyến tiếc quân vương thương tình cũ
    Nào hay từ phú chẳng hoàng kim
    Tương Như hoàng kim được từ phú
    Say hoa ong bướm giữa kim tiền.

    Mậu Lăng trót say người quên ngẫm
    Văn Quân dâng tặng Bạch Đầu Ngâm
    Nước đã xuôi đông, tây còn nhớ
    Hoa lìa cành cũ, thẹn rừng thâm.

    Tơ hồng dây đỏ vốn vô tình
    Chẳng màn cơn gió thoảng lung linh
    Ai khiến nữ la cùng bến đậu
    Quấn quýt bên nhau tựa bóng hình.

    Một tấm lòng chung, hai loài cỏ
    Lòng người sao vẹn được thế đây?
    Long tu chiếu chiếc mong đừng cuốn
    Mặc cho tơ nhện phủ giăng đầy.

    Hổ phách gối xưa nhờ lưu lại
    Biết đâu giấc mộng sẽ quay đầu
    Nước đổ vô tình sao lấy trọn
    Chàng về nhưng thiếp chẳng còn đâu.

    Xưa kia đắc ý đâu ruồng rẫy
    Nay chỉ Thanh Lăng với cầm đài...

    Lạc Mỹ Xuyên Thu

    Chú thích:
    *cỏ thố ty: hay còn được gọi là dây tơ hồng.
    **Bài thơ là một bài phóng tác từ câu chuyện của Tương Như và Trác Văn Quân. Để biết thêm chi tiết, có thể xem lại chú thích ở bài Cầm Đài của Đỗ Phủ.
     
  5. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Cổ Ý
    Tác Giả: Lý Bạch
    ***

    古意

    君為女蘿草,
    妾作菟絲花。
    輕條不自行,
    為逐春風斜。
    百丈託遠松,
    纏綿成一家。
    誰言會面易,
    各在青山崖。
    女蘿發馨香,
    菟絲斷人腸。
    枝枝相糾結,
    葉葉競飄揚。
    生子不知根,
    因誰共芬芳。
    中巢雙翡翠,
    上宿紫鴛鴦。
    若識二草心,
    海潮易可量。


    Cổ ý

    Quân vi nữ la thảo,
    Thiếp tác thố ti hoa.
    Khinh điều bất tự hành,
    Vị trục xuân phong tà.
    Bách trượng thác viễn tùng,
    Triền miên thành nhất gia.
    Thuỳ ngôn hội diện dị,
    Các tại thanh sơn nha (nhai).
    Nữ la phát hinh hương,
    Thố ty đoạn nhân trường.
    Chi chi tương củ kết,
    Diệp diệp cánh phiêu dương.
    Sinh tử bất tri căn,
    Nhân thuỳ cộng phân phương.
    Trung sào song phỉ thuý,
    Thượng túc tử uyên ương.
    Nhược thức nhị thảo tâm,
    Hải triều diệc khả lường.

    Dịch nghĩa

    Chàng là loài cỏ nữ la
    Thiếp là loài hoa thố ti
    Cành nhỏ nhắn không thể tự đi
    Nghiêng ngả theo gió xuân
    Gởi thân nơi cây tùng trăm trượng xa xôi
    Lâu ngày thành chung một nhà
    Ai bảo gặp nhau đã dễ
    Mỗi bên ở một bên sườn núi xanh
    Cỏ nữ la toả mùi thơm ngát
    Hoa thố ti làm người ta đứt ruột
    Cành cành kết lại với nhau chằng chịt
    Lá lá phất phơ theo gió
    Sinh con chẳng biết đến rễ
    Nhờ ai mà cùng thơm
    Bên trong là tổ phỉ thuý
    Bên trên đôi uyên ương đậu
    Ví như biết được tấm lòng của hai loài cỏ ấy
    Thì có thể đo được nước triều ở biển.


    Bản dịch: Ý Cũ

    Tình chàng ví cỏ nữ la
    Thố ti tựa thiếp, là hoa ái tình.

    ...

    Cành nhỏ nghiêng nghiêng đà uốn lượn
    Nương theo xuân thoảng gió vờn qua
    Gửi thân tùng bách xa trăm trượng
    Lâu ngày tái ngộ chung một nhà.

    Ai bảo tương phùng đâu chuyện dễ
    Núi xanh chia cắt cũng đôi sườn
    Hương ngát nữ la mùi cỏ dại
    Thố ti day dứt kẻ đoạn trường.

    Cành cành kết chặt thuở ban sơ
    Lá lá phiêu nhiên gió lững lờ
    Sinh con chẳng biết đâu là rễ
    Cùng nhau hương tỏa chẳng phai mờ.

    Trong kia phỉ thúy xây cùng tổ
    Trên này đôi đậu bóng uyên ương
    Ví chăng biết được đôi tình cỏ
    Mấy khi triều biển cũng đo lường.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu
     
  6. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Lục Thủy Khúc
    Tác giả: Lý Bạch

    ***
    淥水曲

    淥水明秋月,
    南湖採白蘋。
    荷花嬌欲語,
    愁殺蕩舟人。​


    Lục Thuỷ khúc

    Lục Thuỷ minh thu nguyệt,
    Nam hồ thái bạch tần.
    Hà hoa kiều dục ngữ,
    Sầu sát đãng chu nhân.


    Dịch nghĩa

    Trong nước thu xanh biếc có ánh trăng sáng
    Nam hồ hoa sen trắng toả sáng chói
    Hoa đẹp dục người cất tiếng ca
    Làm buồn lòng khách chơi thuyền.

    Bản dịch: Khúc Lục Thủy
    Nước trong xanh biếc trăng thu sáng
    Nam hồ sen trắng tỏa hào quang
    Yêu kiều hoa dục người cất tiếng
    Thuyền khách chơi sông dạ bàng hoàng. ​


    Lạc Mỹ Xuyên Thu

     
  7. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Tử Dạ Hạ Ca
    Tác giả: Lý Bạch
    ***

    子夜夏歌

    鏡湖三百里,
    菡萏發荷花。
    五月西施采,
    人看隘若耶。
    回舟不待月,
    歸去越王家。

    Tử Dạ hạ ca

    Kính hồ tam bách lý,
    Hạm đạm phát hà hoa.
    Ngũ nguyệt Tây Thi thái,
    Nhân khán ải Nhược Da.
    Hồi chu bất đãi nguyệt,
    Quy khứ Việt vương gia.

    Dịch nghĩa

    Kính Hồ trải dài ba trăm dặm
    Những cây sen nở hoa đầy
    Tháng năm Tây Thi hái hoa
    Người xem thấy ở trên con lạch hẹp Nhược Da
    Chẳng buồn chờ trăng nữa, quay thuyền về
    Trở lại cung điện của vua Việt.

    Bản dịch:
    Bài Ca Mùa Hạ Của Nàng Tử Dạ

    Trải dài trăm dặm Kính Hồ
    Hoa sen rộ nở diễn phô khắp đầm
    Tây Thi hái dịp tháng năm
    Nhược Da như thoáng giai nhân ải kì
    Quay thuyền bỏ nguyệt người đi
    Về nơi cung cấm Việt trì quân vương.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu
    Đôi nét:

    Bài thơ nói đến thời thịnh trị của triều đại nhà Ðường và mượn Tây Thi để nói lên sắc đẹp diễm lệ khuynh quốc khuynh thành của Dương Quý Phi. Tác giả cảm thương cho những kiếp hồng nhan bạc phận cũng như cảm khái trước những giông tố sắp nổi lên.

    Cuộc sống còn hồn nhiên của Tây Thi trước khi bị tuyển lựa để đem cống cho Ngô Phù sai, dùng nàng làm mỹ nhân kế để thực hiện giấc mông tranh bá đồ vương của Câu Tiễn. Chúng ta có thể hiểu vẻ đẹp của Tây Thi làm người người cảm thương. Nhưng người đẹp vẫn vô tình quay thuyền trở về nhà đâu biết được số kiếp hồng nhan ba chìm bảy nổi sắp sửa xảy tới cho mình.

    Với chế độ phong kiến, đất đai nào mà chẳng phải của vua (mạc phi vương thổ). Việt vương gia quay trở về nhà mình (ở đất Việt). Nếu đã bị tuyển vào cung cấm rồi thì đi đâu xe ngựa rộn ràng làm sao mà có chuyện hái hoa sen, làm sao mà về sớm được, còn phải ở cạnh quân vương để mà xem hoa ngắm nguyệt.
     
  8. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Tử Dạ Thu Ca
    Tác Giả: Lý Bạch
    ***

    子夜秋歌

    長安一片月,
    萬戶擣衣聲。
    秋風吹不盡,
    總是玉關情。
    何日平胡虜,
    良人罷遠征?

    Tử Dạ thu ca

    Trường An nhất phiến nguyệt,
    Vạn hộ đảo y thanh.
    Thu phong xuy bất tận,
    Tổng thị Ngọc quan tình.
    Hà nhật bình Hồ lỗ,
    Lương nhân bãi viễn chinh?

    Dịch nghĩa

    Mảnh trăng mọc trên đầu Trường An
    Nơi nơi nghe tiếng đập áo
    Gió mùa thu thổi không hết
    Rốt cuộc cũng còn đâu đó cái nhớ nhung về người miền Ngọc Môn quan
    Trời hỡi ngày nào dẹp xong rợ Hồ
    Cho chồng tôi hết phải sống cuộc đời lính thú xa xôi.
    Bản dịch: Bài Ca Mùa Thu Của Nàng Tử Dạ

    Trường An trăng mọc trên đầu
    Chày đêm đập áo vang đâu khắp trời
    Gió thu nào thổi cho vơi
    Đâu đây nỗi nhớ mong người Ngọc Môn*
    Rợ Hồ dẹp loạn cho xong
    Chàng thôi đời lính, em không đợi chồng.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu​

    Chú thích:


    *Ngọc Môn: Là Ngọc Môn quan, giờ là Sa Châu, cách Trường An 3600 dặm.
    Đôi nét:

    Ðây là bài nổi tiếng nhất trong bốn bài Tử Dạ tứ thời ca, nói lên cảnh từ thanh bình thịnh trị (2 câu đầu) chuyển sang cảnh chiến tranh (2 câu kế). Hai câu chót nói lên tình cảm của người đương thời, còn tràn đầy hy vọng chiến tranh sẽ sớm chấm dứt. Bút pháp đơn giản nhưng khéo diễn đạt tâm tình cũng như nếp sống của thời đó.

    Tử Dạ là tên một người con gái đời Tấn, làm những bài ca rất bi ai.
     
  9. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Tử Dạ Xuân Ca
    Tác giả: Lý Bạch

    ***

    子夜春歌

    秦地羅敷女,
    採桑綠水邊。
    素手青條上,
    紅妝白日鮮。
    蠶饑妾欲去,
    五馬莫留連。

    Tử Dạ xuân ca

    Tần địa La Phu* nữ,
    Thái tang lục thuỷ biên.
    Tố thủ thanh điều thượng,
    Hồng trang bạch nhật tiên.
    Tàm cơ thiếp dục khứ,
    Ngũ mã** mạc lưu liên.

    Dịch nghĩa

    Người con gái La Phu đất Tần
    Hái dâu bên dòng nước xanh
    Bàn tay trắng ngần vịn vào nhành cây xanh
    Ánh nắng mặt trời chiếu trên bộ đồ đỏ mới tinh
    Tằm đói rồi thiếp phải chạy về nhà
    Xin ngài (người đi xe năm ngựa kéo) đừng ở lại lâu.

    Bản dịch:
    Bài Ca Mùa Xuân Của Nàng Tử Dạ


    Đất Tần con gái La Phu
    Dòng xanh nước thẳm hái dâu bên đàn
    Tay ngà vin nhánh cây nang
    Hồng y má thắm chói chang ánh trời
    Chăm tằm thiếp phải về thôi
    Chàng trên xe ngựa đừng ngồi lại lâu.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu

    Chú thích:
    *Tên người con gái hái dâu trong khúc nhạc phủ "Mạch thượng tang".

    **Quan thái thú đời Hán khi đi tuần dùng xe năm ngựa kéo. Ngũ mã cũng là tiếng mỹ xưng đối với quan thái thú.

    Đôi nét:
    Bài thơ nói lên đời thái bình thịnh trị khi mà người dân quê được sống đời hái dâu nuôi tằm. Hai câu kết ý nhị nhẹ nhàng. Khách đa tình thấy ngất ngây trước vẻ đẹp chất phác, mơn mởn (khoẻ mạnh), tự nhiên. Thiếu nữ nửa mời mọc, nửa chối từ một cách khéo léo. Thôi thiếp phải về nhà nuôi tằm kẻo chúng đói (ngài có muốn theo không?). Mà thôi ngài là khách hào hoa, phú quí chẳng nên dây dưa ở đây mà làm gì. Thiếp thân phận thấp hèn chẳng qua chỉ là bông hoa bên đường. Nếu ngài không thật tình thì chỉ làm thiếp khổ vì vấn vương mà thôi.
     

Chia sẻ trang này