Chuyển ngữ Cổ thi: Bản sắc thi ca - Nhiều tác giả

Thảo luận trong 'Tác phẩm phương Đông' bắt đầu bởi Lạc, 8/5/19.

  1. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    [​IMG]


    Cổ Thi: Bản Sắc Thi Ca

    Sưu tập và biên soạn: Lạc Mỹ Xuyên Thu

    Dịch: Lạc Mỹ Xuyên Thu

    [​IMG]


    Sơ Lược Về Thi Văn


    Thi là chí, Văn là đời.


    Đó là cội nguồn của văn chương mà các nhà phê bình văn học thường nói.


    Văn nhân - Thi sĩ mượn chữ viết để nói lên cái chí của mình, để tả lại cái sự đời. Nhưng để có được một áng văn tuyệt tác, một bài thơ bất hủ họ đã phải dành phần lớn cuộc đời mình để trải nghiệm rồi chiêm nghiệm, suy tư cấu tứ. Ấy chỉ mới là Sức mà thôi, ai ai cũng có thể làm được, nếu muốn. Phần quan trọng hơn đó chính là Tài, mỗi người một vẻ. Thế mới có "chiếu trên" dành cho các bậc Văn hào 文豪 - Thi hào 詩豪!


    Khoảng giữa của Văn (tản văn) và Thơ (vận văn) lại tồn tại một thể loại đặc biệt là Phú đại diện cho thể Biền văn, tức kết hợp giữa tản văn và vận văn. Thể loại Phú ngày nay không mấy ai dùng nhưng xưa kia thịnh hành trong một thời gian dài ở Trung Hoa cũng như ở nước ta.

    Về cơ cấu và quá trình phát triển cổ thi văn Trung Hoa xin tóm tắt như sau:

    Cơ cấu Thi - Phú:
    • Thi kinh > Cổ Phong thi > Đường Luật thi: thi ca thuần tuý, dùng để ngâm vịnh.
    • Sở từ > Phú (lưu thuỷ, đường phú): ngợi ca hay thán oán.
    • Hán Nhạc Phủ > Tống Từ > Nguyên Khúc: làm ca từ cho nhạc kịch.
    Cơ cấu Tản Văn:
    • Luận: Luận thuyết (đại thuyết), Nghị luận
    • Ký: Sử ký, Bút ký, Hồi Ký
    • Truyện: Truyền thuyết, Tiểu thuyết
    • Tán: Tự, Bạt; Tế (điếu), Minh
    (Trích Cổ Hán Văn của Lỗ Bình Sơn)



    Tóm Lược Về Nội Dung


    Văn sinh thi, thi hữu văn.


    Ngày xưa, thi ca cốt chủ yếu trong những cuộc thi văn nhân, một phần cũng vì nó dễ tóm gọn nội dung hơn là phải viết những câu văn dài dòng lý thuyết.


    Bên cạnh đó, cái hay ở thi ca chính là việc đánh giá con người qua việc nhìn cái Chí (志) để đánh giá cái Nhân (人).


    "Cổ Thi: Bản Sắc Thi Ca" sẽ giới thiệu một số những tác phẩm thi ca cổ bao gồm thơ cổ Việt Nam và Trung Hoa (Phần lớn là thơ đường). Ngoài những bản tự dịch, Thu sẽ tóm lược vài nét về tác giả, tác phẩm (Bao gồm chữ Hán) cũng như sẽ sưu tầm thêm vài bản dịch của các nhà thơ khác.


    Đây là bản dịch dựa vào phần Hán tự và bản Hán Việt nên có phần giống với những bản dịch khác. Nếu có ý kiến về bản quyền, liên hệ người dịch để biết thêm chi tiết, xin cảm ơn.


    (Mọi bản dịch sưu tầm thêm sẽ được chú thích)


    Danh Sách Tác Giả vàTác Phẩm
    (Cập nhật)



    I. Bồ Tát Man - Thẩm Đoan Tiết
    II. Lục Hồn Sơn Trang - Tống Chi Vấn
    III. Vãn Thứ Nhạc Hương Huyện - Trần Tử Ngang
    IV. Tòng Quân Hành - Dương Quýnh
    V. Tỳ Bà Hành - Bạch Cư Dị
    VI. Đỗ Phủ

    1. Giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
    2. Tác Phẩm (cập nhật)
    • Dã Vọng _ Thanh thu vọng bất cực
    • Cầm Đài
    • Bát nguyệt thập ngũ dạ nguyệt
    • Đăng Nhạc Dương Lâu
    • Xuân Nhật Ức Lý Bạch
    VII. Vô Đề - Gia Các Lượng
    VIII. Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế
    IX. Họa Khang ngũ Đình Chi "Vọng nguyệt hữu hoài" - Đỗ Thẩm Ngôn

    X. Lý Bạch
    1. Phần Một: Cuộc Đời Và Sự Nghiệp Sáng Tác
    2. Phần Hai: Tác Phẩm
    • Tống Biệt
    • Hiệp Khách Hành
    • Thu Tứ
    • Bả Tửu Vấn Nguyệt
    • Độ Kinh Môn Tống Biệt
    • Độc Tọa Kính Đình Sơn
    • Thu Phong Từ
    • Bạch Đầu Ngâm
    • Cổ Ý
    • Lưu Thủy Khúc
    • Tử Dạ Đông Ca
    • Tử Dạ Hạ Ca
    • Tử Dạ Thu Ca
    • Tử Dạ Xuân Ca

    ☆☆☆



    Mọi người nếu có những bản dịch khác vẫn có thể tham gia và gửi ngay phía dưới topic. Cảm phiền không spam.
     
    Chỉnh sửa cuối: 8/5/19
    Du Ca, Đạo Nhân, Aria1 other person thích điều này.
  2. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Bồ Tát Man 菩薩蠻
    Tác giả: Thẩm Đoan Tiết
    ***

    Sơ lược tác giả:

    Thẩm Đoan Tiết 沈端節 người Ngô Hưng, sống tại Đàm Dương, năm sinh và mất không rõ, sống khoảng trước sau niên hiện Càn Đạo đời Tống Hiếu Tông, làm các chức quan Vu Hồ lệnh (Huyện lệnh Vu Hồ), Tri Hành châu (Tri Phủ Hành Châu).


    菩薩蠻


    千里供行色,
    客愁濃似春山碧。
    幸自不思歸,
    子規心上啼。

    芳意隨人老,
    綠盡江南草。
    窈窕可人花,
    路長何處家。


    Bồ Tát Man

    Xuân sơn thiên lý cung hành sắc,
    Khách sầu nùng tự xuân sơn bích.
    Hạnh tự bất tư quy,
    Tử quy tâm thượng đề.


    Phương ý tuỳ nhân lão,
    Lục tận Giang Nam thảo.
    Yểu điệu khả nhân hoa,
    Lộ trường hà xứ gia.


    Bản dịch: Bồ Tát Man

    Núi xuân nghìn dặm một vẻ tròn
    Khách buồn khắc khoải trước núi non
    Hạnh phúc khi không về chốn cũ
    Con về than khóc lòng sắc son.

    Cảnh sắc theo người qua bao tuổi
    Xanh tận Giang Nam cỏ vẫn còn
    Dáng hoa như ngỡ người trong mộng
    Đường xa chẳng thấy bóng nhà con.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu

    (Tư liệu: Thivien.net)
     
    Chỉnh sửa cuối: 8/5/19
    AriaAndrea thích điều này.
  3. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Lục Hồn Sơn Trang
    陸渾山莊

    Tác giả: Tống Chi Vấn
    ***

    Sơ lược về tác giả:

    Tống Chi Vấn 宋之問 (khoảng 656-710), còn có tên là Thiếu Liên 少連, tự Diên Thanh 延清, quê quán ở Hà Nam. Tuy không có tài liệu nào cho biết rõ năm sinh nhưng ông mất năm 710, và do đó được xếp vào những nhà thơ của Sơ Ðường. Không rõ cuộc đời sĩ tử của ông ra sao nhưng hoạn lộ của ông bắt đầu rất sớm. Mới hai mươi tuổi đã được Võ Tắc Thiên vời ra làm quan tại Tập hiền quán, sau đó không lâu lại được thăng làm Khảo công viên ngoại lang, rồi Thượng phương giám thừa.

    [Tìm hiểu thêm về tác giả]


    陸渾山莊

    歸來物外情,
    負杖閱岩耕。
    源水看花入,
    幽林採藥行。
    野人相問姓,
    山鳥自呼名。
    去去獨吾樂,
    無然愧此生。

    Lục Hồn Sơn Trang

    Quy lai vật ngoại tình,
    Phụ trượng duyệt nham canh.
    Nguyên thuỷ khán hoa nhập,
    U lâm thái dược hành.
    Dã nhân tương vấn tính,
    Sơn điểu tự hô danh.
    Khứ khứ độc ngô lạc,
    Vô nhiên quý thử sinh.


    Bản Dịch:

    Về nơi chốn cũ lòng bỏ lại
    Chống gậy bên non ngóng ruộng cày
    Nơi đầu nguồn thẳm thơm hoa mới
    Chốn cuối rừng sâu thuốc sẵn bày
    Người lạ hỏi tên tường danh tính
    Chim rừng cất tiếng tự cho hay
    Đi lại mình ta cùng khoái lạc
    Không tài tự thấy thẹn lòng thay.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu


    Bản Dịch Của Trần Trọng Kim

    Nghỉ về gác bỏ chuyện đời,
    Thung dung chống gậy coi chơi ruộng cồn.
    Xem hoa vào tận trong nguồn,
    Có khi hái thuốc đi luôn vào rừng.
    Người quê hỏi họ lăng nhăng,
    Chim kêu trên núi tự xưng tên mình.
    Đi đi cho thỏa tâm tình,
    Vụng về ngẫm lại sinh bình tủi thay.

    (Bản dịch của Trần Trọng Kim
    Sưu tầm: thivien.net)

     
    Andrea thích bài này.
  4. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Vãn thứ Nhạc Hương huyện
    晚次樂鄉縣
    Tác giả: Trần Tử Ngang​

    ***
    Sơ lược về Tác Giả

    Trần Tử Ngang 陳子昂 (661-702) tự là Bá Ngọc 伯玉, người đất Xạ Hồng, Tử Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Lúc thiếu thời ông chỉ mải vui chơi săn bắn, đánh bạc. Đến 18 tuổi còn chưa biết đến sách. Sau đi học lại rất chịu khó và đậu tiến sĩ. Ra làm quan tới chức Hữu thập di rồi xin từ quan trở về quê. Ông bị chết trong tù năm 42 tuổi. Có để lại tập thơ nhan đề là Trần Bá Ngọc tập.


    晚次樂鄉縣

    故鄉杳無際,
    日暮且孤征。
    川原迷舊國,
    道路入邊城。
    野戍荒煙斷,
    深山古木平。
    如何此時恨,
    噭噭夜猿鳴。

    (Tư liệu: thivien.net)


    Vãn thứ Nhạc Hương huyện

    Cố hương yểu vô tế,
    Nhật mộ thả cô chinh.
    Xuyên nguyên mê cựu quốc,
    Đạo lộ nhập biên thành.
    Dã thú hoang yên đoạn,
    Thâm sơn cổ mộc bình.
    Như hà thử thì hận,
    Khiếu khiếu dạ viên minh.


    Bản dịch:
    Chiều đến huyện Nhạc Hương


    Quê xưa khuất bóng giữa trời xa
    Cất bước đơn côi dưới xế tà
    Sông núi ngỡ đâu về nước cũ
    Lối nào như dẫn đến thành ca
    Khói hiệu biên cương dần tắt lại
    Bão giăng rừng thẳm hẳn vừa qua
    Thấy cảnh đau lòng người xa xứ
    Chợt nghe vượn hú thoảng đời ta.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu​
     
    Andrea thích bài này.
  5. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Tòng quân hành 從軍行
    Tác giả: Dương Quýnh

    ***
    Sơ Lược về tác giả:

    Dương Quýnh 楊炯 (650-692) sống vào khoảng đời vua Đường Cao Tông 唐高宗, người huyện Hoa Âm 華陰, một trong Sơ Đường tứ kiệt. Trong Toàn Đường thi 全唐詩 có chép 33 bài của ông.


    從軍行

    烽火照西京,
    心中自不平。
    牙璋辭鳳闕,
    鐵騎繞龍城。
    雪暗凋旗畫,
    風多雜鼓聲。
    寧為百夫長,
    勝作一書生。

    Tòng Quân Hành

    Phong hỏa chiếu Tây kinh,
    Tâm trung tự bất bình.
    Nha chương từ phụng khuyết,
    Thiết kỵ nhiễu Long thành.
    Tuyết ám điêu kỳ hoạ,
    Phong đa tạp cổ thanh.
    Ninh vi bách phu trưởng,
    Thắng tác nhất thư sinh.

    (Tư liệu: thivien.net)

    Bản Dịch: Khúc Ca Tòng Quân

    Giăng mờ lửa hiệu phủ Tây Kinh*
    Oán giận trong tâm nỗi bất bình
    Giữ ấn* trong tay rời gác phượng
    Lên yên giáp ngựa đảo Long Thành*
    Sương che tuyết phủ trên cờ chiến
    Gió lẫn đan xen tiếng trống kình
    Thà đứng cầm đầu trăm kẻ lính
    Còn hơn học đòi gã thư sinh.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu​

    Chú thích:

    *Tây Kinh: hay còn gọi là thành Trường An
    *Ấn (Ấn ngà): Binh phù
    *Long Thành: Kinh thành của tù trưởng Hung Nô
     
    Andrea thích bài này.
  6. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Tỳ bà hành 琵琶行
    Tác giả: Bạch Cư Dị


    ***

    [​IMG]


    琵琶行


    潯陽江頭夜送客,
    楓葉荻花秋瑟瑟。
    主人下馬客在船,
    舉酒欲飲無管弦。
    醉不成歡慘將別,
    別時茫茫江浸月。
    忽聞水上琵琶聲,
    主人忘歸客不發。
    尋聲暗問彈者誰,
    琵琶聲停欲語遲。
    移船相近邀相見,
    添酒回燈重開宴。
    千呼萬喚始出來,
    猶抱琵琶半遮面。
    轉軸撥弦三兩聲,
    未成曲調先有情。
    弦弦掩抑聲聲思,
    似訴生平不得志。
    低眉信手續續彈,
    說盡心中無限事。
    輕攏慢撚抹復挑,
    初為霓裳後六么。
    大弦嘈嘈如急雨,
    小弦切切如私語。
    嘈嘈切切錯雜彈,
    大珠小珠落玉盤。
    閒關鶯語花底滑,
    幽咽流景水下灘。
    水泉冷澀弦凝絕,
    凝絕不通聲漸歇。
    別有幽愁暗恨生,
    此時無聲勝有聲。
    銀瓶乍破水漿迸,
    鐵騎突出刀鎗鳴。
    曲終收撥當心畫,
    四弦一聲如裂帛。
    東船西舫悄無言,
    惟見江心秋月白。
    沈吟放撥插弦中,
    整頓衣裳起斂容。
    自言本是京城女,
    家在蝦蟆陵下住。
    十三學得琵琶成,
    名屬教坊第一部。
    曲罷曾教善才服,
    妝成每被秋娘妒。
    五陵年少爭纏頭,
    一曲紅綃不知數。
    鈿頭銀篦擊節碎,
    血色羅裙翻酒污。
    今年歡笑復明年,
    秋月春風等閒度。
    弟走從軍阿姨死,
    暮去朝來顏色故。
    門前冷落車馬稀,
    老大嫁作商人婦。
    商人重利輕別離,
    前月浮梁買茶去。
    去來江口守空船,
    繞船明月江水寒。
    夜深忽夢少年事,
    夢啼妝淚紅闌干。
    我聞琵琶已歎息,
    又聞此語重唧唧。
    同是天涯淪落人,
    相逢何必曾相識。
    我從去年辭帝京,
    謫居臥病潯陽城。
    潯陽地僻無音樂,
    終歲不聞絲竹聲。
    往近湓城地底濕,
    黃蘆苦竹繞宅生。
    其間旦暮聞何物,
    杜鵑啼血猿哀鳴。
    春江花朝秋月夜,
    往往取酒還獨傾。
    豈無山歌與村笛,
    嘔啞嘲哳難為聽。
    今夜聞君琵琶語,
    如聽仙樂耳暫明。
    莫辭更坐彈一曲,
    為君翻作琵琶行。
    感我此言良久立,
    卻坐促弦弦轉急。
    淒淒不似向前聲,
    滿座重聞皆掩泣。
    座中泣下誰最多,
    江州司馬青衫濕。


    Tỳ Bà Hành

    Tầm Dương giang đầu dạ tống khách

    Phong diệp địch hoa thu sắt sắt

    Chủ nhân há mã khách tại thuyền

    Cử tửu dục ẩm vô quản huyền

    Tuý bất thành hoan thảm tương biệt

    Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt

    Hốt văn thuỷ thượng tỳ bà thanh

    Chủ nhân vong quy khách bất phát

    Tầm thanh âm vấn đàn giả thuỳ

    Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì

    Di thuyền tương cận yêu tương kiến

    Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến

    Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai

    Do bão tỳ bà bán già diện

    Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh

    Vị thành khúc điệu tiên hữu tình

    Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ

    Tự tố bình sinh bất đắc chí

    Đê mi tín thủ tực tực đàn

    Thuyết tận tâm trung vô hạn sự

    Khinh lung mạn nhiên mạt phục khiêu

    Sơ vi Nghê thường hậu Lục yêu

    Đại huyền tào tào như cấp vũ

    Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ

    Tào tào thiết thiết thác tạp đàn

    Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn

    Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt

    U yết lưu cảnh thuỷ hạ than

    Thuỷ tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt

    Ngưng tuyệt bất thông thanh tiệm yết

    Biệt hữu u sầu ám hận sinh

    Thử thời vô thanh thắng hữu thanh

    Ngân bình sạ phá thuỷ tương bính

    Thiết kỵ đột xuất đao thương minh

    Khúc chung thu bát đương tâm hoạch

    Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch

    Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn

    Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch

    Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung

    Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung

    Tự ngôn bản thị kinh thành nữ

    Gia tại Hà Mô lăng hạ trú

    Thập tam học đắc tỳ bà thành

    Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ

    Khúc bãi tằng giao thiện tài phục

    Trang thành mỗi bị Thu Nương đố

    Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu

    Nhất khúc hồng tiêu bất tri số

    Điền đầu ngân tì kích tiết toái

    Huyết sắc la quần phiên tửu ố

    Kim niên hoan tiếu phục minh niên

    Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ

    Đệ tẩu tòng quân a di tử

    Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố

    Môn tiền lãnh lạc xa mã hy

    Lão đại giá tác thương nhân phụ

    Thương nhân trọng lợi khinh biệt ly

    Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ

    Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền

    Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thuỷ hàn

    Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự

    Mộng đề trang lệ hồng lan can

    Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức

    Hựu văn thử ngữ trùng tức tức

    Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân

    Tương phùng hà tất tằng tương thức

    Ngã tòng khứ niên từ đế kinh

    Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành

    Tầm Dương địa tích vô âm nhạc

    Chung tuế bất văn ty trúc thanh

    Trú cận Bồn giang địa thế thấp

    Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sinh

    Kỳ gian đán mộ văn hà vật

    Đỗ quyên đề huyết viên ai minh

    Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ

    Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh

    Khởi vô sơn ca dữ thôn địch

    Âu á triều triết nan vi thính

    Kim dạ văn quân tỳ bà ngữ

    Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh

    Mạc từ cánh toạ đàn nhất khúc

    Vị quân phiên tác Tỳ bà hành

    Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập

    Khước toạ xúc huyền huyền chuyển cấp

    Thê thê bất tự hướng tiền thanh

    Mãn toạ trùng văn giai yểm khấp

    Toạ trung khấp hạ thuỳ tối đa

    Giang Châu tư mã thanh sam thấp.


    Dịch nghĩa


    Ban đêm đưa tiễn khách ở đầu sông Tầm Dương

    Gió thu thổi vào lá phong, hoa lau hiu hắt

    Chủ nhân xuống ngựa, khách trong thuyền

    Nâng chén rượu muốn uông (mà) không có đàn sáo

    Say mà không vui vẻ gì (vì) biệt ly sầu thảm

    Lúc chia tay lòng mang mang, sông đượm bóng trăng

    Chợt nghe có tiếng tỳ bà trên mặt nước

    Chủ nhân quyên về, khách cũng không khởi hành

    Tìm theo tiếng để hỏi người đàn là ai

    Tiếng tỳ bà im bặt, muốn nói mà còn (ngại ngùng) trì hoãn

    Bèn dời thuyền lại xin được gặp mặt

    Rót thêm rượu, khêu đèn lên, trùng tân tiệc rượu

    Gọi đến ngàn lần vạn lần mới bước ra

    Tay ôm tỳ bà che khuất nửa gương mặt

    Vặn trục gảy dây hai ba tiếng (để thử)

    Chưa có khúc điệu gì mà nghe đã hữu tình

    Dây nào cũng nghẹn ngào, tiếng nào cũng có ý

    Bày tỏ nỗi bất đắc chí trong cuộc đời

    Hạ thấp lông mày cứ gảy cứ gảy mãi

    Giãi bày hết tâm sự vô cùng hạn

    Nhẹ nắn, chậm vuốt, rồi lại gảy tiếp

    Thoạt đầu là khúc Nghê thường, sau đó là khúc Lục yêu

    Dây lớn ào ào như mưa rào

    Dây nhỏ nỉ non như tỉ tê chuyện riêng

    (Rồi tiếp đến) tiếng rào rào lẫn tiếng nỉ non

    (Nghe như) hạt châu lớn hạt châu nhỏ rắc vào trong mân ngọc

    (Nghe như) tiếng chim oanh giọng (líu lo) qua lại trong hoa

    Nhịp suối ngập ngừng, nước chảy xuống bãi

    Suối nước bỗng lạnh đông, dây đàn ngưng bặt

    Tiếng đàn ngưng bặt, không thuận, bấy giờ bỗng yên lặng

    Tự có mối sầu u uất riêng, nỗi hận âm thầm phát sinh

    Lúc này không có âm thanh mà nghe con hay hơn có

    (Bỗng dưng nghe như) tiếng nước bắn tung ra khỏi thành bình bạc vị phá vỡ

    (Nghe như) đoàn quân thiết kỵ ào ào đến, đao thương sáng ngời

    Nàng dạo tay vào giữa bốn dây (và) chấm dứt ca khúc

    Bốn dây vang lên một âm thanh như lụa xé

    Thuyền mảng đông tây lặng im, không một tiếng nói

    Chỉ thấy vầng trăng thu rọi sáng giữa sông

    Nàng trầm ngâm gỡ phím, cài vào giữa các dây đàn

    Sửa gọn xiêm áo lại, đứng dậy chỉnh vẻ mặt

    Tâm sự rằng, nàng nguyên là con gái chốn kinh thành

    Nhà ở lăng Hà Mô

    Mười ba tuổi học được ngón đàn tỳ bà

    Tên thuộc bộ thứ nhất của giáo phường

    Mỗi gảy hết khúc đàn, từng khiến các nhà dạy đàn phục

    Mỗi trang điểm xong là đến nàng Thu Nương cũng đố kỵ

    Những chàng trai trẻ ở Ngũ Lăng tranh nhau tặng biếu

    Một bài ca, thưởng không biết bao là tấm lụa đào

    Vành lược bạc, cành trâm vàng đánh nhịp vỡ tan

    Quần lụa màu huyết dụ để rượu đổ ra hoen ố

    Năm này vui cười, năm sau cũng như vậy

    Trăng thu gió xuân, trải một đời nhàn hạ

    Em trai đi lính, rồi dì chết

    Chiều qua, sớm lại, nhan sắc cũng lão đi

    Trước cổng dần vắng tanh, thưa thớt đi ngựa xe

    Cũng có tuổi rồi mới làm vợ người lái buôn

    Người lái buôn chỉ tham lợi, coi thường biệt ly

    Tháng trước đi Phù Lương mua trà

    Từ đó đến giờ ở đầu sông một mình với con thuyền không

    Quanh thuyền trăng sáng, nước sông lạnh lẽo

    Đến khuya bỗng mộng thấy lại thời trẻ trung

    Trong mộng thấy khóc nhoè má hồng phấn son

    Tôi nghe tiếng tỳ bà đã thán tức

    Giờ nghe thêm những lời tâm sự lại càng bùi ngùi

    Cùng là kẻ luân lạc ở chốn chân trời

    Gặp gỡ nhau đây hà tất đã từng quen biết

    Năm ngoái tôi từ biệt kinh vua

    Bị biếm đến thành Tầm Dương cho đến nay nằm bệnh

    Tầm Dương xứ hẻo lánh không có âm nhạc

    Cả năm chưa nghe được tiếng đàn sáo

    Tôi ở gần sông Bồn, chỗ thấp và ẩm ướt

    Lau vàng, trúc võ mọc quanh nhà

    Ở nơi đây sáng chiều nghe được những gì

    Có tiếng quốc khóc ra máu và tiếng vượn hú bi ai

    Mùa xuân sáng hoa nở, mùa thu ban đêm có ánh trăng

    Tôi thường thường đem rượu ra uống một mình

    Có phải không có sơn ca thôn địch đâu

    Khốn nỗi líu lo, líu liết, thật khó nghe

    Đêm nay nghe được tiếng tỳ bà của nàng

    Như nghe được tiếng nhạc tiên, tai tạm nghe rõ ràng

    Xin ngồi lại đàn một khúc

    Tôi sẽ vì nàng làm bài Tỳ Bà hành

    Cảm động vì lời tôi nói, nàng đứng một lúc lâu

    Rồi ngồi xuống gảy đàn, tiếng bỗng chuyển thành cấp xúc

    Buồn thảm không giống như tiếng đàn vừa rồi

    Hết những người trong tiệc nghe lại đều che mặt khóc

    Trong những người ấy ai là người khóc nhiều nhất

    Tư mã Giang Châu ướt đẫm vạt áo xanh.



    Dịch Thơ:


    Tầm Dương tiễn khách đêm thâu

    Lá phong hiu hắt, hoa lau êm đềm

    Người xuống ngựa, khách trong thuyền

    Rượu nâng chưa cạn mà quên sáo đàn

    Say rồi cất tiếng buồn than

    Trăng tà rọi bóng, hợp tan trĩu lòng

    Tỳ Bà bỗng cất trên sông

    Người đà quay gót, kẻ không khởi hành

    Lần tìm xin hỏi tính danh

    Tỳ bà im tiếng chẳng đành đổi trao

    Cập thuyền mong được gặp nhau

    Khêu đèn, rượu rót, tiệc vào bày qua

    Gọi ngàn lần mới bước ra

    Tỳ bà che nửa dung hoa thẹn thùng

    Thử đàn, vang tiếng mông lung

    Khúc còn chưa gảy mà rung động người

    Dây thổn thức, tiếng như lời

    Giãy bày cay đắng cuộc đời truân chuyên

    Rũ mày đàn gảy triền miên

    Vô vàng tâm sự, sầu riêng mấy điều

    Nhẹ dừng, chậm vuốt, lại khêu

    "Nghê Thường" vừa dứt, "Lục Yêu" dây vào

    Lớn thì như tiếng mưa rào

    Nhỏ đà tựa lúc thì thào nỉ non

    Rì rào lẫn tiếng con con

    Hòn hòn mân ngọc rót mòn hạt châu

    Trong hoa oanh hót thêm vào

    Suốt triền, nước chảy nơi đâu ngập ngừng

    Giá lòng đàn cũng chợt ngưng

    Lắng trong dạ khách lân lân nỗi niềm

    Hận lòng một mối sầu riêng

    Đàn không còn tiếng mà điên đảo người

    Nước đà tựa phá bình rơi

    Lại như thiết kỵ sáng ngời đao loan

    Dạo tay giữa bốn dây đàn

    Kết rồi một khúc âm vang cõi trần

    Trên thuyền chẳng tiếng ai nâng

    Sông thu rọi bóng trăng ngần gió lay

    Trầm ngâm gỡ phím, cài dây

    Áo xiêm khép nép cùng ai giải lời:

    Nàng thời con gái kinh đô

    Xưa làng ở tận Hà Mô quê nhà

    Rành đàn lúc tuổi mười ba

    Cầm kỳ hạng nhất trong hoa giáo phường

    Khúc đàn bao khách cảm thương

    Điểm tô xuân sắc, Thu Nương chẳng bằng

    Những chàng trai ở Ngũ Lăng

    Tranh mua một khúc, lụa dâng gấm hàng

    Vành lược bạc, trâm gãy đàn

    Quần hồng rượu đổ tràn lan lụa đào

    Năm này chẳng khác năm sau

    Xuân thu trăng gió, đời bao hạ nhàn

    Em tòng quân, khóc dì tang

    Chiều qua, sớm lại, sắc nhan luống già

    Cổng dần thanh vắng ngựa qua

    Xuân nay đà lỡ vào nhà lái buôn

    Doanh tham chia biệt xem thường

    Tháng rồi từ giã, Phù Lương mua trà

    Thuyền đơn lẻ bóng mình ta

    Trăng soi dưới bóng trăng tà lạnh căm

    Khuya về mộng thấy thời xuân

    Khóc nhòe hương phấn, má son chẳng màn."

    Tỳ bà vang tiếng thở than

    Này thêm tâm sự hồng nhan bùi ngùi

    Cùng thân luân lạc chân trời

    Gặp nhau như ngỡ một đời đẩy đưa

    Năm rồi từ biệt kinh vua

    Tầm Dương mang bệnh vẫn chưa khỏi lành

    Đất này hẻo lánh âm thanh

    Một năm vắng tiếng đua tranh sáo đàn

    Sông Bồn ẩm thấp thanh nhàn

    Lau vàng, võ trúc mọc quanh hiên nhà

    Sáng chiều những tiếng nghe qua

    Quốc kêu tuôn máu, vượn hòa bi ai

    Ngày xuân hoa, tối trăng vầy

    Đêm thu nâng chén rượu say một mình

    Sơn ca cũng hót tâm tình

    Nhưng ấm ríu rít chẳng gìn tâm can

    Nàng dâng một khúc bên đàn

    Như vang tiên nhạc rõ ràng bên tai

    Ngồi đàn một khúc đêm nay

    Tỳ Bà hành khúc vì ai viết lời

    Tần ngần cảm xúc lời tôi

    Bèn ngồi xuống gảy, chuyển dời kép dây

    Thảm thương hơn khúc vừa đây

    Một phen tiệc rượu khóc thay cho nàng

    Người mang nức nở rõ ràng

    Giang Châu Tư mã ướt làn áo xanh.



    Lời tự:

    Nguyên Hoà thập niên, dư tả thiên Cửu Giang quận Tư mã. Minh niên thu, tống khách Bồn phố khẩu, văn thuyền trung dạ đàn tỳ bà giả, thính kỳ âm, tranh tranh nhiên hữu kinh đô thanh; vấn kỳ nhân, bản Trường An xướng nữ, thường học tỳ bà ư Mục, Tào nhị thiện tài. Niên trưởng sắc suy, uỷ thân vi cổ nhân phụ. Toại mệnh tửu, sử khoái đàn sổ khúc, khúc bãi mẫn nhiên. Tự tự thiếu tiểu thời hoan lạc sự, kim phiêu luân tiều tuỵ, chuyển tỷ ư giang hồ gian. Dư xuất quan nhị niên điềm nhiên tự an, cảm tư nhân ngôn, thị tịch, thuỷ giác hữu thiên trích ý, nhân vi trường cú ca dĩ tặng chi, phàm lục bách nhất thập lục ngôn, mệnh viết Tỳ bà hành.


    元和十年,予左遷九江郡司馬。明年秋,送客湓浦口,聞船中夜彈琵琶者,聽其音,錚錚然有京都聲;問其人,本長安倡女,嘗學琵琶於穆曹二善才。年長色衰,委身為賈人婦。遂命酒,使快彈數曲,曲罷憫然。自敘少小時歡樂事,今漂淪憔悴,轉徙於江湖間。予出官二年 恬然自安,感斯人言,是夕,始覺有遷謫意,因為長句歌以贈之,凡六百一十六言,命曰琵琶行。


    (Năm Nguyên Hoà thứ 10, ta về giữ chức Tư Mã ở quận Cửu Giang. Qua mùa thu năm sau, đêm ra tiễn khách bên bến sông Bồn, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn tỳ bà vọng lại. Nghe trong tiến đàn thánh thót, âm vang điệu nhạc ở kinh đô. Bèn hỏi gốc gác. Người đàn bà trả lời rằng "Tôi vốn là con hát, quê ở Trường An, học đàn tỳ bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn (thường theo thuyền buôn đi đây đi đó)". Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Đàn xong cảm xúc vô vàn, nàng bèn kể lại cuộc đời mình từ lúc còn trẻ, vui sướng, cho tới lúc lưu lạc giang hồ khổ nhọc. Ta về đây làm quan đã được hai năm thanh thản yên ổn. Hôm nay nghe nàng nầy nói chuyện, cảm thương cho số phận lưu đầy! Bèn làm một bài thơ dài tặng nàng ta, gồm 616 lời, gọi là Tỳ bà hành.)

    Bài thơ này được sử dụng làm bài đọc thêm trong chương trình SGK Văn học 10 giai đoạn 1990-2006.

     
    Andrea thích bài này.
  7. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Đổ Phủ 杜甫
    ***

    [​IMG]


    Phần Một: Cuộc Đời Và
    Sự Nghiệp Sáng Tác


    ☆ Cuộc đời :


    ☆☆ Sự Nghiệp Sáng Tác:


    Thơ Đỗ Phủ tập trung biểu hiện ba khía cạnh chủ yếu: tinh thần phản kháng cường quyền, lòng yêu thương nhân dân và nhiệt tình yêu nước thiết tha. Thường trong nhiều bài, ba nội dung ấy gắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau tạo nên giá trị hiện thực của thơ ca Đỗ Phủ. Tất cả đều xoay quanh một trục thống nhất là bản thân ông. Từ chính những khổ đau của bản thân mình, ông hoà chung nỗi đau của riêng mình với nỗi đau của nhân dân, của đất nước. Thơ ca của Đỗ Phủ chính là những thiên ký sự về đời ông, một cuộc đời thăng trầm mà trầm nhiều hơn thăng.


    Tuy chưa thoát khỏi thế giới quan của tư tưởng Nho gia hẹp hòi, nhưng đó là những hạn chế có tính chất thời đại, thơ ca của Đỗ Phủ không vì thế mà giảm đi giá trị của nó. Nhà thơ vẫn hoàn thành sứ mệnh nghệ thuật của mình một cách vẻ vang.


    Đỗ Phủ kiêm gồm nhiều thể thơ từ ngũ ngôn đến thất ngôn, cổ thể đến cận thể mà qua tay ông đều trở nên xuất sắc, nhuần nhuyễn. Thơ ông được dụng công gọt dũa rất công phu: "Làm người tính thích câu thơ đẹp, Đọc chẳng kinh người chết chẳng thôi" (Hí vi lục tuyệt cú). Ông sở trường về thơ ngũ ngôn, vốn là thể khó làm hay vì câu thơ ngắn, nhịp điệu đơn giản. Nhưng ông vẫn khéo truyền nỗi lòng chân thật, tha thiết vào thơ, nên những bài thơ ngũ ngôn của ông dù rất dài như "Vịnh hoài bách ngũ tự", "Tráng du", "Thuật hoài",... vẫn đầy sức gợi cảm. Thơ thất ngôn đến tay ông mới thật sự đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là thơ luật, được ông chăm sóc, đẽo gọt tỉ mỉ mà vẫn trôi chảy tự nhiên, ít ai bì kịp. Đỗ Phủ làm thơ rất dụng công, đúng như ông đã nói "Ngữ bất kinh nhân tử bất hưu" (Lời lẽ chưa kinh động lòng người thì chết chẳng yên). Hơn nữa, Đỗ Phủ nắm rất vững thanh vận trong ngôn ngữ Trung Quốc và sử dụng nó để phát huy được sức thể hiện và truyền cảm của thơ. Có những bài thơ dài hàng chục đến trăm câu, ông chỉ dùng độc vận, hoặc cũng có thể trong một bài ngắn ông lại đổi vần. Dùng vần trắc hay vần bằng ông đều có chủ định. Đỗ Phủ còn sáng tạo những hình ảnh thi vị, mới mẻ, giàu sức truyền cảm, sáng tạo những ý cảnh, khí phách rộng lớn. Ông thật xứng với danh xưng "Thi thánh" mà người đời sau tôn tặng.


    Đỗ Phủ tiếp thu có chọn lọc, kế thừa có phát huy những thành quả văn học quá khứ rồi hun đúc thành cái của mình, sáng tạo và mới mẻ. Nguyên Chẩn đời sau đánh giá: "Đỗ Tử Mỹ, trên thì làm mờ cả Phong Tao (Thi kinh, Sở từ), dưới thì kiêm cả Thẩm-Tống (Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn), lời thơ vượt cả Tô-Lý (Tô Vũ, Lý Lăng), khí thơ nuốt cả Tào-Lưu (Tào Thực, Lưu Côn), che khuất đỉnh cao Nhan-Tạ (Nhan Diên, Tạ Linh Vận), nhuộm cả dòng thắm Dữu-Từ (Dữu Tín, Từ Lăng), có được tất cả thể chế của cổ kim, và hết thảy cái đặc sắc của từng thi sĩ. Người làm thơ xưa nay chưa từng có ai như Đỗ Tử Mỹ" (Đường cố kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang Đỗ quân mộ hệ minh).


    Đỗ Phủ để lại cho đời hơn 1400 bài thơ, phân thành hai loại lớn: cổ thể thi và cận thể thi. Cổ thể thi là loại thơ tự do, cận thể thi là loại thơ cách luật.

    - Cổ thể thi: 416 bài trong đó ngũ ngôn cổ thể 271 bài, thất ngôn cổ thể 145 bài.

    - Cận thể thi: 1037 bài trong đó luật thi có 772 bài, bài luật có 127 bài, tuyệt cú có 138 bài (31 bài ngũ ngôn, 107 bài thất ngôn).


    Các tác phẩm thơ của Đỗ Phủ được dịch và in thành sách ở Việt Nam:

    - Thơ Đỗ Phủ (NXB Văn học, 1962)

    - Thơ Đỗ Phủ (Nhượng Tống dịch, NXB Văn học, 1996)

    - Đỗ Phủ, nhà thơ thánh với hơn một nghìn bài thơ (Phan Ngọc dịch, NXB Văn hoá - Thông tin, 2001)

    - Thơ Đỗ Phủ, Nhiều người dịch (NXB Thanh niên, 2004)


    ☆☆☆Tìm Hiểu Thêm:

    Tư Tưởng Và Tác Phẩm

    Lịch sử

    Từ thời nhà Tống thơ Đỗ Phủ đã được gọi là "thi sử" (詩史). Vấn đề lịch sử được đề cập trực tiếp trong thơ ông là sự bình luận các sách lược quân sự, các thắng bại của triều đình hay những ý kiến ông muốn đề đạt trực tiếp tới hoàng đế. Một cách gián tiếp, ông viết về ảnh hưởng của thời đại đối với đời sống chính mình cũng như người dân thường Trung Quốc.


    Những phản ánh chính trị của Đỗ Phủ dựa trên cảm xúc chứ không dựa trên tính toán. Ông ước ao mọi người bớt ích kỷ và làm tròn bổn phận của mình. Tuy nhiên, do người ta không thể không đồng ý với các quan điểm của ông nên các sự thật được biểu đạt đầy sức thuyết phục trong thơ ông đã khiến ông trở thành một nhân vật trung tâm trong thi sử Trung Quốc.


    Đạo đức


    Một danh hiệu thứ hai mà các nhà phê bình Trung Quốc đặt cho Đỗ Phủ là "thi thánh" (詩聖), ngang hàng với Khổng Tử, vị thánh về triết học. Trong một bài thơ ở thời kỳ đầu tiên của ông, Binh xa hành(兵車行) (khoảng năm 750), đã nói lên nỗi thống khổ của một người bị bắt đi lính trong quân đội triều đình, thậm chí trước khi xảy ra loạn An Lộc Sơn; bài thơ này nói lên sự xung đột giữa việc chấp nhận và hoàn thành nghĩa vụ, và sự ý thức rõ ràng về những đau khổ có thể nảy sinh. Chủ đề này liên tiếp được nhấn mạnh trong những bài thơ về cuộc đời của dân chúng và binh sĩ mà Đỗ Phủ sáng tác trong cả cuộc đời mình.




    Tuy việc Đỗ Phủ hay nhắc đến sự thống khổ của riêng mình có thể đem lại một ấn tượng về chủ nghĩa duy ngã. Nhưng thực tế hình ảnh ông trong đó luôn được quan sát dưới góc độ khách quan và hầu như chỉ được đưa ra sau chót để tự cảm thán. Vì thế, ông khiến bức tranh xã hội trong thơ mang tính khái quát cao hơn khi so sánh nó với một cá nhân tầm thường là chính mình.




    Tình thương của Đỗ Phủ đối với chính mình và với người khác chỉ là một phần trong các chủ đề của thơ ông: ông còn sáng tác nhiều bài về những chủ đề mà trước đó bị coi là không thích hợp để thể hiện trong thơ. Zhang Jie đã viết rằng đối với Đỗ Phủ, "mọi thứ trên thế giới này đều là thơ" (Chou p. 67), các chủ đề trong thơ ông rất bao quát, như cuộc sống hàng ngày, thư họa, hội họa, thú vật và các chủ đề khác.



    Kỹ thuật

    Trước tác của Đỗ Phủ đặc biệt nổi tiếng nhất vì tầm vóc của nó. Các nhà phê bình Trung Quốc thường dùng từ Tập đại thành 集大成, theo lời ca ngợi của Mạnh Tử dành cho Khổng Tử. Yuan Zhen là người đầu tiên lưu ý tới mức độ to lớn của các tác phẩm của Đỗ Phủ, năm 813 ông đã viết, (Đỗ Phủ) "đã thống nhất trong tác phẩm của mình những nét tiêu biểu mà người trước mới chỉ đề cập riêng lẻ". Ông là nhà thơ tài nghệ trong mọi phong cách thơ Trung Quốc. Ở bất cứ hình thức nào ông đều mang lại những tiến bộ vượt bậc hay đóng góp những ví dụ mẫu mực. Hơn nữa, thơ ông có phạm vi sử dụng từ vựng rộng lớn, từ cách nói trực tiếp và thông tục cho đến cách nói bóng và ngôn ngữ văn chương. Nội dung chính trong thơ đã thay đổi khi ông phát triển phong cách của mình để thích hợp với hoàn cảnh xung quanh. Những bài thơ đầu tiên theo phong cách trang nhã nhưng về sau này khi trải qua những cơ cực của chiến tranh thơ ông đã trở lại với phong cách đích thực của mình. Những bài thơ sáng tác trong giai đoạn ở Tần Châu đơn giản đến tàn nhẫn, phản ánh quang cảnh hoang tàn. Những bài thơ giai đoạn ở Thành Đô nhẹ nhàng và đẹp đẽ, trong khi ở cuối giai đoạn Quỳ Châu đậm chi tiết và có tính dự báo.


    Dù sáng tác ở mọi thể loại thơ, Đỗ Phủ nổi tiếng nhất ở cận thể thi, một kiểu thơ có nhiều ràng buộc về hình thức và số lượng từ trong câu. Khoảng hai phần ba trong 1.500 tác phẩm hiện còn của ông là ở thể này, và nói chung ông được coi là nhà thơ tiêu biểu cho thể loại này. Những bài thơ đạt nhất của ông trong thể loại dùng phép đối song song để thêm nội dung biểu đạt thay vì chỉ là một quy định kỹ thuật thông thường.


    Ảnh Hưởng


    Sinh thời và ngay sau khi mất, Đỗ Phủ đã không được đánh giá cao, phần vì những đổi mới trong phong cách và hình thức thơ ông. Một số bị coi là quá táo bạo và kỳ cục đối với giới phê bình văn học Trung Quốc. Chỉ một số ít tác giả đương thời có nhắc tới ông và miêu tả ông với tính chất tình cảm cá nhân, chứ không phải như một nhà thơ xuất chúng hay lý tưởng đạo đức. Thơ Đỗ Phủ cũng ít xuất hiện trong những hợp tuyển văn học thời kỳ đó.




    Tuy nhiên, ảnh hưởng của ông đối với thi ca Trung Quốc ngày càng mạnh mẽ, và tới thế kỷ thứ 9 ông đã trở nên rất nổi tiếng. Những lời ngợi ca đầu tiên dành cho Đỗ Phủ là của Bạch Cư Dị, người đã ca ngợi những tình cảm đạo đức trong một số tác phẩm của Đỗ Phủ. Hàn Vũ đã viết bài bênh vực mỹ học trong thơ Đỗ Phủ và Lý Bạchtrước những lời chỉ trích nhằm vào họ. Tới đầu thế kỷ thứ 10, Wei Zhuang đã cho dựng lại bản sao đầu tiên ngôi nhà tranh của ông ở Tứ Xuyên.




    Tới thế kỷ 11, trong giai đoạn Bắc Tống, danh tiếng Đỗ Phủ lên tới cực điểm. Trong thời gian này các nhà thơ trước đó đã được đánh giá lại một cách toàn diện, theo đó Vương Duy, Lý Bạch và Đỗ Phủ lần lượt được coi là đại diện cho xu hướng Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo trong văn hóa Trung Quốc. Cùng lúc ấy, sự phát triển của Tân Khổng giáo đã đặt Đỗ Phủ lên vị trí cao nhất, vì trong cả cuộc đời, ông đã không vì đói nghèo cùng khổ mà quên đi quân vương của mình. Ảnh hưởng của ông càng tăng do khả năng hòa hợp những mặt đối lập: phe bảo thủ chính trị bị thu hút bởi sự trung thành của ông với hệ thống tôn ti trật tự sẵn có, còn phe cải cách nắm lấy mối quan tâm của ông đối với đời sống dân nghèo. Từ khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập, sự trung thành với quốc gia và những quan tâm của ông tới người nghèo đã được giải thích sự phôi thai của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội, và ông được tán dương vì ông đã sử dụng ngôn ngữ giản dị "của nhân dân".




    Sự nổi tiếng của Đỗ Phủ lớn tới mức có thể đo được, như trường hợp của Shakespeare ở Anh. Mỗi nhà thơ Trung Quốc đều khó có thể không bị ảnh hưởng từ ông. Không bao giờ có một Đỗ Phủ thứ hai, các nhà thơ sau này tiếp nối truyền thống trong từng khía cạnh cụ thể của thơ ông. Mối quan tâm của Bạch Cư Dị tới dân nghèo, lòng yêu nước của Lục Du, các phản ánh cuộc sống hàng ngày của Mai Nghiêu Thần là một vài ví dụ.


    ( Tư liệu: thivien.net và wikipedia.org )



    Đôi lời nhận xét:

    "Nếu nói sự yêu thích đối với Lý Bạch xuất phát từ tình yêu thơ lãng mạn của ông, thì đối với Đỗ Phủ lại là sự ngưỡng vọng cao đẹp về con người tài hoa ấy."

    Nhắc đến Đổ Phủ hầu như mọi người đã quá quen thuộc với cái tên này trong thi văn cổ đại. Ông là một nhà thơ tài hoa và lỗi lạc trong thi văn lẫn đời thường, khi bước đầu tìm hiểu thơ của ông, tôi rất bâng khuâng vì khối lượng thơ khổng lồ và những bản dịch gần như vô tận, chẳng biết phải bắt đầu từ đâu. Sau gần một tháng tìm hiểu, cộng thêm nhiều bài thơ được biên soạn từ cuốn "Đường Thi Quốc Âm Cổ Bản" tôi cũng đã lựa chọn cho mình nhiều bài thơ phù hợp với phong cách của bản thân và những bài thơ gắn bó với cuộc sống đời thường.


    Số lượng bài có thể chỉ cập nhật trong giới hạn khả năng của dịch giả, nếu thi hữu nào có lòng yêu cổ thi lẫn tác giả này, có thể đóng góp thêm nhiều bản dịch khác.


    Chân thành cảm ơn các bạn đã đến với Cổ Thi.

     
  8. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Đổ Phủ
    Phần Hai: Tác Phẩm

    ♧♧♧

    Dã Vọng (Thanh thu vọng bất cực)
    野望(清秋望不极)

    Tác giả: Đỗ Phủ
    ***

    野望

    清秋望不极,
    迢遞起層陰。
    遠水兼天淨,
    孤城隱霧深。
    葉稀風更落,
    山迥日初沈。
    獨鶴歸何晚?
    昏鴉已滿林。

    Dã vọng

    Thanh thu vọng bất cực,
    Thiều đệ khởi tằng âm.
    Viễn thuỷ kiêm thiên tĩnh,
    Cô thành ẩn vụ thâm.
    Diệp hi phong cánh lạc,
    Sơn quýnh nhật sơ trầm.
    Độc hạc quy hà vãn?
    Hôn nha dĩ mãn lâm.

    Dịch nghĩa

    Bầu thu trong vắt khôn cùng
    Xa xôi bao lớp bóng râm nổi lên
    Nước xa lẫn vòm trời quang đãng
    Thành cô quạnh nấp trong sương dày
    Lá thưa thớt gió thổi cứ rụng dần
    Núi tít mù mặt trời vừa lặn
    Hạc lẻ bầy buổi chiều bay về đâu?
    Quạ hoàng hôn xao xác khắp rừng.

    (Tư liệu: thivien.net)

    Bản dịch: Ngắm Cảnh Đồng Quê

    Trời thu xanh ngát ngắm vô ngần
    Rợp bóng xa xa xếp bao tầng
    Vời trong nước lặng hòa trời thẳm
    Quạnh quẻ thành ca phủ sương vần
    Gió thoảng đưa cành rời lá cội
    Mây trời núi chẳng thấy dừng chân
    Hạc lẻ xa bầy chiều khuất bóng
    Trong rừng tiếng quạ giữa trời quang.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu

     
  9. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Cầm đài 琴臺
    Tác giả: Đỗ Phủ
    ***

    [​IMG]


    琴臺

    茂陵多病後,
    尚愛卓文君,
    野肆人間世,
    琴臺日暮雲,
    野花留寶靨,
    芳草見羅裙,
    歸鳳求凰意,
    寥寥不可聞。


    Cầm đài

    Mậu Lăng đa bệnh hậu,
    Thượng ái Trác Văn Quân.
    Tửu tứ nhân gian thế,
    Cầm đài nhật mộ vân.
    Dã hoa lưu bảo yếm,
    Mạn thảo kiến la quần.
    Quy phụng cầu hoàng ý,
    Liêu liêu bất phục văn.

    Dịch nghĩa

    Sau buổi lắm bệnh ở Mậu Lăng,
    Càng thêm yêu Trác Văn Quân.
    Quán rượu trong cõi nhân gian,
    Cầm đài dưới bóng mây chiều.
    Hoa dại nằm trong chén quý,
    Cỏ hoang vương gấu quần là.
    Ý phượng cầu hoàng xưa,
    Nay không còn được nghe lại nữa.

    (Tư liệu: thivien.net)


    Bản dịch: Cầm Đài*

    Bỏ chốn Mậu Lăng* đào hoa quấn
    Quay về vui cuộc Trác Văn Quân
    Quán rượu nhân gian tường khắp cõi
    Cầm đài mây phủ bóng giai nhân
    Hoa dại say mờ trong chén tửu
    Cỏ vấn thơm hương dưới áo quần
    Phong tình bỏ lại cầu phượng ý
    Vọng tiếng đàn xa biết bao lần.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu


    Chú thích:
    *Cầm Đài: đài gảy đàn - Cầm đài là nơi xưa Tư Mã Tương Như thường lên gảy đàn.
    *Mậu Lăng: Tên vùng đất có lăng của Hán Vũ Đế năm xưa. Khi đó Tương Như vốn rất phong tình, say mê một người con gái ở Mậu Lăng, có ý muốn cưới nàng làm thiếp. Văn Quân ghen, làm khúc Bạch đầu ngâm, Trường Khanh bèn thôi.
     
  10. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Bát Nguyệt Thập Ngũ Dạ Nguyệt
    Tác giả: Đỗ Phủ

    ***


    [​IMG]


    八月十五夜月其一

    滿目飛明鏡,
    歸心折大刀。
    轉蓬行地遠,
    攀桂仰天高。
    水路疑霜雪,
    林棲見羽毛。
    此時瞻白兔,
    直欲數秋毫。​


    Bát nguyệt thập ngũ dạ nguyệt
    Mãn mục phi minh kính,
    Quy tâm chiết đại đao*.
    Chuyển bồng hành địa viễn,
    Phan quế ngưỡng thiên cao.
    Thuỷ lộ nghi sương tuyết,
    Lâm thê kiến vũ mao.
    Thử thì đam bạch thố,
    Trực dục sổ thu hào.​


    Dịch nghĩa
    Thấy rõ tấm gương sáng bay,
    Lòng mong về quê cũ khiến gãy con dao lớn.
    Như cỏ bồng đi nơi đất xa,
    Vin cây quế để thấy trời cao.
    Đường sông tưởng sương với tuyết,
    Ở rừng thấy lông lá.
    Lúc này ngắm thỏ trắng,
    Muốn có ngay vài sợi tơ mùa thu.​


    (Tư liệu: thivien.net)
    Đêm Trăng Rằm Tháng Tám

    Ngẩng thấy gương treo cách mấy đào
    Lòng thương khách cũ đoạn phân đao
    Tiễn cỏ bồng bay về đất hứa
    Nương cành hương quế vọng trời cao
    Đường về khách ngỡ sông sương tuyết
    Lối dạo rừng sâu lẫn chim mào
    Cung Quảng nơi nào trông thỏ trắng.
    Thu về kéo sợi đến ngàn sao.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu ​

    Chú thích:

    *chiết đại đao: Ngô Cương 呉剛, một ông tiên bị phạt giam trong mặt trăng, buộc phải chặt đứt cây quế. Lòng mong về quê cũ của Đỗ Phủ giống cố gắng cùa Ngô Cương, gãy dao rồi mà vẫn chưa có kết quả.​
     
    Du Ca thích bài này.
  11. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Đăng Nhạc Dương Lâu
    Tác giả: Đỗ Phủ


    [​IMG]
    (Ảnh: Nhạc Dương lâu)

    登岳陽樓
    昔聞洞庭水,
    今上岳陽樓。
    吳楚東南坼,
    乾坤日夜浮。
    親朋無一字,
    老病有孤舟。
    戎馬關山北,
    憑軒涕泗流。


    Đăng Nhạc Dương* lâu
    Tích văn Động Đình thuỷ,
    Kim thướng Nhạc Dương lâu.
    Ngô Sở đông nam sách,
    Càn khôn nhật dạ phù.
    Thân bằng vô nhất tự,
    Lão bệnh hữu cô chu.
    Nhung mã quan san bắc,
    Bằng hiên thế tứ lưu.​


    Dịch nghĩa
    Xưa nghe nói nước hồ Động Đình,
    Nay được lên lầu Nhạc Dương.
    Đất Ngô, đất Sở chia tách ở hai phía đông nam,
    Trời đất suốt ngày đêm dập dềnh nổi.
    Bà con bạn hữu không có một chữ (thư từ qua lại)!
    Thân già yếu lênh đênh trong chiếc thuyền côi quạnh.
    Quan san phía bắc đang nhộn binh đao,
    Tựa hiên, ròng ròng nước mắt, nước mũi!

    (Tư liệu: thivien.net)​


    Dịch Thơ: Lên Lầu Nhạc Dương
    Trước hồ Động Đình thường nghe đến
    Nay lầu Nhạc Dương lại được lên
    Đông Nam hai phía chia Ngô Sở
    Trời đất ngày đêm nổi dập dềnh
    Thư tín hữu** hàng*** nay chẳng thấy
    Thân già một chiếc thuyền lênh đênh
    Phương Bắc xa xôi còn chinh chiến
    Ngậm ngùi rơi lệ tựa bên hiên.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu​


    Bản Dịch chữ Nôm (Sưu tầm):
    Tú Xương
    Mấy cảnh Tiêu Tương vẫn tiếng đồn
    Lầu đây hồ đấy trải bao còn
    Chia ra Ngô Sở chiều ngang dọc
    Chốt lại càn khôn thỏa nước non
    Một chữ thân bằng tin nhạn vắng
    Nghìn trùng quan tái chiếc thuyền con
    Xa xa cõi bắc lầm phong hỏa
    Thăm thẳm Trường An mắt đã mòn.​

    Chú Thích:
    *Nhạc Dương: Nhạc Dương lâu là lầu ở cửa Tây thành Nhạc Dương, một trong Giang Nam tam đại danh lâu (hai lầu còn lại là Đằng Vương các và Hoàng Hạc lâu).
    **Hữu: Bằng hữu, bạn bè

    ***Hàng: Họ hàng
     
    Du Ca thích bài này.
  12. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Xuân Nhật Ức Lý Bạch
    Tác giả: Đỗ Phủ
    ◇◇◇

    Đôi nét về tác phẩm:
    (Năm 746) Đỗ Phủ và Lý Bạch quen nhau ở Lạc Dương. Ít lâu sau Lý Bạch đi Giang Đông, Đỗ Phủ về Trường An. Về sau hai người không còn gặp lại nhau nữa. Đỗ Phủ làm bài này khi về Trường An.

    春日憶李白

    白也詩無敵,
    飄然思不群。
    清新庾開府,
    俊逸鮑參軍。
    渭北春天樹,
    江東日暮雲。
    何時一樽酒,
    重與細論文?​


    Xuân nhật ức Lý Bạch
    Bạch dã thi vô địch,
    Phiêu nhiên tứ bất quần.
    Thanh tân Dữu khai phủ,*
    Tuấn dật Bão tham quân.**
    Vị bắc*** xuân thiên thụ,
    Giang Đông**** nhật mộ vân.
    Hà thì nhất tôn tửu,
    Trùng dữ tế luân văn?


    Dịch nghĩa
    Thơ Lý Bạch không có ai là địch thủ,
    Tứ thơ phơi phới, nhẹ nhàng không ai bằng được.
    Trong sáng, mới mẻ, giống như thơ của Dữu khai phủ,
    Hào hùng phiêu dật, giống như thơ của Bão tham quân.
    Lúc này tôi đang ngắm hàng cây dưới trời xuân tại Vị Bắc,
    Thì bạn đang ở trong bóng mây chiều ở Giang Ðông.
    Biết bao giờ được cùng nhau uống một chén rượu,
    Và bàn kỹ về thơ văn?

    (Tư liệu: thivien.net)​

    Dịch Thơ: Ngày xuân nhớ Lý Bạch

    Lý Bạch thi ca ai danh phạm
    Tài tứ phiêu nhiên khí bất phàm
    Thanh tân như tựa khai phủ Dữu
    Phiêu dật hào hùng Bão quân tham
    Vị Bắc xuân xanh còn phủ lá
    Giang Đông lấp bóng chốn mây ngàn
    Đợi ngày nâng chén say rồi tỉnh
    Thơ ngày cố hữu lại cùng ngâm.
    Lạc Mỹ Xuyên Thu


    _______
    Chú thích:

    *Dữu khai phủ: Tức Dữu Tín 庾信, nhà thơ đời Nam Bắc triều, làm chức khai phủ, có tài văn chương, là tác giả bài Ai Giang Nam phú nổi tiếng.
    **Bão tham quân: Tức Bão Chiếu 鮑照, cũng là một nhà thơ đời Nam Bắc triều, làm chức tham quân, nổi tiếng có thi tài.
    ***Vị Bắc: Lúc này Đỗ Phủ đang ở Hàm Dương, phía bắc sông Vị.
    ****Giang Đông: Nơi Lý Bạch đang ở lúc này, nay là miền nam tỉnh Giang Tô và miền bắc tỉnh Chiết Giang.
     
  13. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Vô Đề 無題
    Tác giả: Gia Các Lượng 諸葛亮
    ***

    Giới thiệu tác giả: Gia Cát Lượng 諸葛亮 (181-234) tự Khổng Minh 孔明, người Dương Đô, Lang Gia (nay là huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc), từng làm thừa tướng cho Lưu Bị đời Tam quốc, là nhà chính trị, quân sự, phát minh, đồng thời cũng là tản văn gia trứ danh trong lịch sử Trung Quốc. Ông là một đại biểu cho lòng trung thành và của văn hoá truyền thống Trung Quốc. Thời trẻ ông còn có ngoại hiệu là Ngoạ Long 臥龍, hoặc Phục Long 伏龍.

    無題

    大夢誰先覺,
    平生我自知。
    草堂春睡足,
    窗外日遲遲。​

    Vô đề *

    Đại mộng thuỳ tiên giác,
    Bình sinh ngã tự tri.
    Thảo đường xuân thuỵ túc,
    Song ngoại nhật trì trì.​

    Dịch nghĩa

    Trong giấc mộng lớn, ai là người tỉnh trước?
    Trong cuộc đời này ta tự biết ta.
    Đang yên giấc ngủ xuân trong ngôi nhà tranh,
    Bên ngoài cửa sổ mặt trời (ngày tháng) cứ chậm rãi trôi qua.​

    Dịch thơ: Không Đề

    Giấc mộng lớn lao ai người tỉnh?
    Cuộc đời bé nhỏ ta biết ta
    Lều tranh yên giấc trong nhà
    Mặt trời chậm rãi trôi qua ánh chiều.​
    Lạc Mỹ Xuyên Thu


    Bản dịch: (Sưu Tầm)

    Mộng lớn nào hay ai tỉnh sớm
    Bình sinh ta tự biết tài ta
    Ngày xuân no giấc nơi lều cỏ
    Bóng nắng ngoài song đã xế tà.
    Trương Việt Linh

    Chú thích:
    *Vô Đề: Khi Lưu bị đến thảo lư mời Khổng minh ra làm quân sư cho mình lần thứ ba (Tam cố thảo lư). Khổng minh sau khi ngủ dậy (không biết ngủ thật hay cố ý giả vờ ngủ) xuất khẩu thành bài thơ này.​
     
  14. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Phong Kiều Dạ Bạc 楓橋夜泊
    Tác giả: Trương Kế
    ***

    Đôi nét về tác giả:
    Trương Kế 張繼 (?-779) tự Ý Tôn 懿孫, người Tương Châu 襄州, đỗ tiến sĩ năm Thiên Bảo thứ 12 (754), là một nhà thơ có tiếng thời Trung Đường. Thơ của ông trong Toàn Đường thi có chép thành một quyển, nhưng chỉ một bài Phong Kiều dạ bạc 楓橋夜泊 đã giúp ông lưu danh thiên cổ.



    楓橋夜泊

    月落烏啼霜滿天,
    江楓漁火對愁眠。
    姑蘇城外寒山寺,
    夜半鐘聲到客船。

    Phong Kiều dạ bạc*
    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
    Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
    Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, **
    Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.​


    Dịch nghĩa

    Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời.
    Hàng phong bên sông, ngọn đèn thuyền chài ở trước người đang ngủ buồn.
    Ngoài thành Cô Tô là chùa Hàn San,
    Tiếng chuông lúc nửa đêm vẳng đến thuyền khách.

    Bản Dịch: Nửa đêm đậu bến Phong Kiều
    Bản 1
    Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ lối
    Lửa chày thiêu giấc bãi phong trôi
    Cô Tô thành phủ Hàn San tự
    Canh tàn chuông gọi khách thuyền côi.​

    Bản 2
    Trăng tàn tiếng quạ phủ trời sương
    Hàng phong đèn thắp giấc mộng thường
    Cô Tô bến vắng thuyền côi lẻ
    Hàn San chuông gọi khách sầu vương.​

    Lạc Mỹ Xuyên Thu

    Bản dịch: Tản Đà

    Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
    Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
    Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
    Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

    (Tư liệu: thivien.net)
    Chú thích:

    * Đôi nét về bối cảnh: Trong bối cảnh thành Trường An chìm trong cơn tao loạn thì nhà thơ Trương Kế, một đại quan tiến sĩ Ngự Sử đài, chẳng kịp theo đoàn hộ giá vương tôn lánh nạn mà đành lưu lạc xuống tận miền Giang Nam trên chiếc thuyền phiêu bạt. Một đêm ghé bến Phong Kiều, động mối u hoài chất chứa, gợi cảm cùng ngoại cảnh thê lương, bức xúc viết nên bài thơ tuyệt diệu, vượt qua cả không gian và thời gian, lưu truyền hậu thế.
    Bài thơ gây khá nhiều tranh cãi về bối cảnh không theo lẽ thường của tác giả, có ý kiến cho rằng nhà thơ chỉ đang ghép vần nên mới có những đoạn văn không theo lẽ thường kia...

    Tìm hiểu thêm

    ** Hàn San Tự: Ngôi chùa nằm ở phía tây trấn Phong Kiều, Tô Châu, được xây vào năm Thiên Giám (502-519) đời Lương Vũ Đế, đến năm Trinh Quán (627-649) đời Đường Thái Tông được gọi là Hàn San tự để tưởng nhớ nhà sư Hàn San cuồng sĩ đã tu ở đây. Trong chùa có tranh tượng hai nhà sư nổi tiếng Hàn San, Thập Đắc.

    _____
    Đôi lời: Sở dĩ có hai bản dịch là vì có một số ý kiến cho rằng những bản dịch trước của vài dịch giả vì đi theo ý của bài thơ mà đảo lộn trật tự của bản Hán Việt nên Thu đã dựa vào bản Hán Việt để dịch bản 1, tuy nhiên để dễ hiểu và lột tả được ý nghĩa của bài thơ thì Thu cho rằng như bản 2 sẽ phù hợp hơn.
    Cuối cùng, ấn tượng của Thu về bài thơ này khá sâu, trước đây Thu từng hạnh ngộ với một vị cố nhân và may mắn được nghe nói về bài thơ này, vì cách nhiều năm nên Thu chỉ nhớ được khoảng đầu và tên của tác giả, cho đến vài hôm trước đột nhiên bắt gặp nên đã quyết định dịch lại bài thơ này, xem như tưởng nhớ người cố nhân kia, trước kia chẳng hiểu vì sao khi nhớ đến người nọ thì trong đầu lại bật ra hai chữ Kế Phong, đến hiện tại mới dần hiểu, đơn giản là nó gắn liền với bài thơ trên, Kế trong Trương Kế, Phong trong Phong Kiều dạ bạc...
     
  15. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Họa Khang ngũ Đình Chi "Vọng nguyệt hữu hoài"
    Tác giả: Đỗ Thẩm Ngôn 杜審言

    ***
    Giới thiệu tác giả:
    Đỗ Thẩm Ngôn 杜審言 (645-708) tự Tất Giản 必簡, thi nhân Sơ Đường. Đỗ Thẩm Ngôn chính là ông nội của Đỗ Phủ đời Thịnh Đường.


    和康五庭芝望月有懷

    明月高秋迥,
    愁人獨夜看。
    暫將弓並曲,
    翻與扇俱團。
    霧濯清輝苦,
    風飄素影寒。
    羅衣一此鑒,
    頓使別离難。​

    Hoạ Khang ngũ Đình Chi "Vọng nguyệt hữu hoài"

    Minh nguyệt cao thu huýnh,
    Sầu nhân độc dạ khan.
    Tạm tương cung tịnh khúc,
    Phiên dữ phiến câu đoàn.
    Vụ trạc thanh huy khổ,
    Phong phiêu tố ảnh hàn.
    La y nhất thử giám,
    Đốn sứ biệt ly nan.

    Dịch nghĩa

    Trăng thu sáng cao xa,
    Ban đêm người buồn một mình coi.
    Mới đây cong như cánh cung,
    Nay đã tròn như cái quạt.
    Sương xuống làm ánh sáng bớt trong,
    Gió thổi làm bóng trắng thêm lạnh.
    Thoáng thấy như tà áo lụa,
    Chợt cảm khó mà rời xa được.​


    Sưu tầm: thivien.net
    Bản dịch: Hoạ bài "Ngắm trăng nghĩ ngợi"của bác năm Khang Đình Chi

    Trăng sáng đêm thu cao vời vợi
    Dáng người cô quạnh đứng chơi vơi
    Vừa mới cong vành như cung tỏa
    Nay lại thoắt tròn tựa quạt thoi
    Sương xuống phủ mờ trăng sáng tỏ
    Gió lùa thêm lạnh bóng trắng trong
    Ngoảnh thấy phất phiêu tà áo lụa
    Lòng chợt vấn vương chẳng nỡ rời.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu​


    *** Không có tư liệu giới thiệu về Khang Đình Chi, tuy nhiên có một bài "Vọng Nguyệt Hữu Hoài" của Lý Bạch có nhắc đến, sẽ được cập nhật trong phần thơ của ông.
     
  16. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Lý Bạch 李白

    Phần Một: Cuộc Đời Và Sự Nghiệp Sáng Tác

    ***


    ☆Cuộc Đời:


    ☆☆ Sự Nghiệp Sáng Tác:



    ☆☆☆ Tác Phẩm:



    ☆☆☆☆ Tìm Hiểu Thêm:


    ♤ Trích Dẫn Tiêu Biểu♤

    1. "Mã nhĩ đông phong" (Tai ngựa, gió đông) - Lý Bạch viết trong bài "Nhớ mười hai đem lạnh Vua Đáp uống một mình" (荅王十二寒夜獨酌有懷): Thế nhân văn thử giai điệu đầu, hữu như đông phong xạ mã nhĩ(世人聞此皆掉頭、有如東風射馬耳), nghĩa là "Mọi người trong thế giới đều nghe ấy và lắc đầu, thật giống như gió xuân thổi qua tai ngựa".
    2. "Kim Cốc tửu sổ" (Kim Cốc số rượu) - Từ bài thơ "Đêm xuân uống rượu trong vườn đào mận (春夜宴桃李園序)": Như thi bất thành, phạt y Kim Cốc tửu sổ (如詩不成、罰依金谷酒數), nghĩa là "Như thơ không thành, phạt theo số rượu ở Kim Cốc".

    ◇ Lý Bạch Trong Đạo Cao Đài ◇


    Theo giáo lý đạo Cao Đài hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Lý Bạch là danh xưng trong một kiếp xuống trần của Thái Bạch Kim Tinh, mượn kiếp này của ngài để tôn thờ một quyền năng thiêng liêng cao trọng với danh hiệu "Lý đại tiên trưởng kiêm giáo tông đại đạo tam kỳ phổ độ."



    "Vâng lịnh Ngọc Hư nay xuống thế,


    Tam kỳ độ rỗi các nguyên nhân"


    Danh xưng Thái Bạch mới có từ đời Phong Thần, đến đời nhà Đường ngài mới chiết chơn linh đầu kiếp là một đại thi hào Lý Bạch.


    "Tinh quân thọ sắc thuở Phong Thần.


    Cho đến Đường triều mới biến thân.

    Thái Bạch Kim Tinh đang trị thế,


    Trường canh trích tử đến thăm trần."

    ***

    Đôi lời:


    Lý Bạch xưa kia còn "Tống Biệt"

    Đổ Phủ đêm trăng "Nguyệt Dạ" điền

    Biệt khúc chia ly người tri kỉ

    Dạ hoài mong ngóng kẻ chinh yên.

    - Lạc Mỹ Xuyên Thu -


    Lý Bạch, nhắc đến cái tên này tôi lại liên tưởng khá nhiều đến sự lãng mạn và cốt khí thanh tao hơn là sự tài hoa khi nói về Đỗ Phủ. Hình tượng của ông luôn là một bạch y lão nhân, không màn thế sự, không vướng bụi trần khiến người ta chỉ có thể đứng nhìn từ xa mà không dám lại gần.


    Bộ thơ khổng lồ của ông thật sự làm tôi rất hoang mang khi phải lựa chọn ra những bài phù hợp với bản thân vừa có thể tách biệt được với phong cách của Đổ Phủ, họ có sự đồng điệu về tâm hồn sáng tác nhưng nếu ai có tìm hiểu về hai vị lão nhân này, chắc hẳn sẽ đôi chút phân biệt được cách ra thi từ của hai người có sự bất đồng. Hơn là những bài nói về nghiệp lớn, tôi lại thích đặt cạnh hai ông bằng những bài thơ ngẫu hứng đời thường.


    Số lượng bài có thể chỉ cập nhật trong giới hạn khả năng của dịch giả, nếu thi hữu nào có lòng yêu cổ thi lẫn tác giả này, có thể đóng góp thêm nhiều bản dịch khác.


    Chân thành cảm ơn các bạn đã đến với Cổ Thi!
     
  17. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Lý Bạch
    Phần hai: Tác Phẩm
    ***

    Tống Biệt
    Tác giả: Lý Bạch

    [​IMG]
    ***
    送別

    鬥酒渭城邊,
    壚頭醉不眠。
    梨花千樹雪,
    楊葉萬條煙。
    惜別傾壺醑,
    臨分贈馬鞭。
    看君潁上去,
    新月到應圓。

    Tống biệt

    Đấu tửu Vị thành biên,
    Lô đầu tuý bất miên.
    Lê hoa thiên thụ tuyết,
    Dương diệp vạn điều yên.
    Tích biệt khuynh hồ tữ,
    Lâm phân tặng mã tiên.
    Khán quân Dĩnh thượng khứ,
    Tân nguyệt đáo ứng viên.
    Bản Dịch: Chia Tay


    Cạn chén rượu đào trên sông Vị
    Đê đầu bên bếp ngỡ rằng say
    Ngàn cây lê phủ như phong tuyết
    Vạn cành lá liễu tựa sương mai.
    Nâng chén buồn thương người tiễn biệt
    Roi da yên ngựa chẳng rời tay
    Dáng người dần khuất trên sông Dĩnh
    Trăng non vừa hé vẫn tròn hoài.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu​
     
  18. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Hiệp Khách Hành 俠客行
    Tác giả: Lý Bạch
    ***

    [​IMG]


    俠客行
    趙客縵胡纓,
    吳鉤霜雪明。
    銀鞍照白馬,
    颯沓如流星。
    十步殺一人,
    千里不留行。
    事了拂衣去,
    深藏身與名。
    閑過信陵飲,
    脫劍膝前橫。
    將炙啖朱亥,
    持觴勸侯嬴。
    三杯吐然諾,
    五岳倒為輕。
    眼花耳熱後,
    意氣素霓生。
    救趙揮金鎚,
    邯鄲先震驚。
    千秋二壯士,
    烜赫大樑城。
    縱死俠骨香,
    不慚世上英。
    誰能書閣下,
    白首太玄經。



    Hiệp khách hành
    Triệu khách mạn hồ anh,
    Ngô câu sương tuyết minh.
    Ngân an chiếu bạch mã,
    Táp đạp như lưu tinh.
    Thập bộ sát nhất nhân,
    Thiên lý bất lưu hành.
    Sự liễu phất y khứ,
    Thâm tàng thân dữ danh.
    Nhàn quá Tín Lăng ẩm,
    Thoát kiếm tất tiền hoành.
    Tương chích đạm Chu Hợi,
    Trì thương khuyến Hầu Doanh.
    Tam bôi thổ nhiên nặc,
    Ngũ nhạc đảo vi khinh.
    Nhãn hoa nhĩ nhiệt hậu,
    Ý khí tố nghê sinh.
    Cứu Triệu huy kim chuỳ,
    Hàm Đan tiên chấn kinh.
    Thiên thu nhị tráng sĩ,
    Huyên hách Đại Lương thành.
    Túng tử hiệp cốt hương,
    Bất tàm thế thượng anh.
    Thuỳ năng thư các hạ,
    Bạch thủ Thái huyền kinh.​

    Dịch nghĩa

    Khách nước Triệu đeo giải mũ thô sơ
    Thanh Ngô câu sáng như sương tuyết
    Yên bạc soi chiếu con ngựa trắng
    Lấp loáng như sao bay
    (Thanh gươm) mười bước giết một người
    Cho nên không đi xa ngàn dặm
    Làm xong việc rũ áo ra đi
    Ẩn kín thân thế cùng danh tiếng
    Lúc nhàn rỗi qua nhà Tín Lăng quân
    Cởi kiếm ra để ngang trên gối
    Đem chả nướng mời Chu Hợi
    Cầm chén rượu mời Hầu Doanh
    Uống ba ly chân thành gật đầu
    Năm trái núi lớn thật xem là nhẹ
    Sau khi mắt hoa, tai nóng bừng
    Ý khí như cầu vồng trắng bốc sinh
    Vung cây chuỳ cứu nước Triệu
    Thành Hàm Đan trước tiên đã chấn kinh
    Hai tráng sĩ ngàn năm sau
    Thanh danh lẫy lừng thành Đại Lương
    Dù cho chết xương cốt hiệp sĩ còn thơm
    Không hổ thẹn với anh hùng trên thế gian
    Ai là người có thể ngồi viết sách dưới gác
    Bạc đầu với cuốn kinh Thái huyền

    (Nguồn: thivien.net)​

    Bản dịch:
    Bài Ca Về Người Hiệp Khách


    Khách nước Triệu thô sơ giải mũ
    Thanh Ngô câu sáng tựa tuyết sương
    Bọc lưng ngựa trắng trên đường
    Yên sau ánh bạc như gương sáng ngời.

    Mười bước giương gươm trừ một kẻ
    Cần chi phải vội ngàn dặm xa
    Việc xong rủ áo cho qua
    Che danh ẩn thế biết là tiếng tăm.

    Thanh nhàn ghé lại quân Lăng Tín
    Tuốt kiếm nâng chân đặt gối ngồi
    Chả nướng Chu Hợi cùng xơi
    Rượu đào nâng chén đối mời Hầu Doanh.

    Rượu cạn ba ly thân tình trọn
    Núi dù năm ngọn tựa hư không
    Men say hoa mắt tai bùng
    Mà đâu ý chí hào hùng dậy nâng.

    Đại chùy vung tay đà cứu Triệu
    Hàm Đan khiếp đảm, loạn yên thành
    Ngàn năm tráng sĩ hai chàng
    Thanh danh lừng lẫy ngút ngàn Đại Lương.

    Xác chôn, xương rạn còn danh sáng
    Anh hùng nào thẹn với thế gian
    Vùi ngâm chép sách bên đàn
    Thái Huyền kinh sử bạc đầu người lưu.

    Lạc Mỹ Xuyên Thu​

    Tìm hiểu thêm:
    Nguỵ Vô Kỵ được anh là Nguỵ An Ly vương phong làm Tín Lăng quân. Ở thành Đại Lương, kinh đô của nước Nguỵ, có một ẩn sĩ 70 tuổi tên là Hầu Doanh. Tín Lăng quân rất trọng Hầu Doanh, tôn làm thượng khách. Hầu Doanh tiến cử người đồ tể tên là Chu Hợi, cũng là một ẩn sĩ hiền tài. Năm thứ 20 đời Nguỵ An Ly vương, quân Tần vây thành Hàm Đan của nước Triệu. Vua Nguỵ sai tướng Tấn Bỉ mang quân sang cứu Triệu, nhưng sau sợ uy thế của Tần, do đó không tiến quân. Tín Lăng quân vì bạn là Bình Nguyên quân đang bị vây ở Triệu, hết lời xin vua Nguỵ cho tiến quân, nhưng vua Nguỵ không nghe. Theo kế của Hầu Doanh, Tín Lăng quân nhờ vương phi Như Cơ, lấy trộm được binh phù của vua Nguỵ, đem đi ra lệnh cho Tấn Bỉ tiến quân. Tấn Bỉ nghi ngờ không tuân lệnh. Chu Hợi liền rút cây chuỳ sắt nặng 40 cân, giết chết Tấn Bỉ. Nhờ đó Tín Lăng quân dem quân đánh đuổi được quân Tần, cứu nguy cho thành Hàm Đan và Bình Nguyên quân. ​
     
  19. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Thu Tứ
    Tác giả: Lý Bạch
    ***

    秋思

    燕支黃葉落,
    妾望自登臺。
    海上碧雲斷,
    單于秋色來。
    胡兵沙塞合,
    漢使玉關回。
    征客無歸日,
    空悲蕙草摧。

    Thu tứ

    Yên Chi hoàng diệp lạc,
    Thiếp vọng tự đăng đài.
    Hải thượng bích vân đoạn,
    Thiền Vu thu sắc lai.
    Hồ binh sa tái hợp,
    Hán sứ Ngọc Quan hồi.
    Chinh khách vô quy nhật,
    Không bi huệ thảo tồi.

    Dịch nghĩa

    Ở Yên Chi lá vàng rơi
    Thiếp tự lên đài cao ngóng nhìn
    Trên vùng Thanh Hải, mây biếc đứt khúc
    Nơi biên ải vùng đất của rợ Hồ, sắc thu đã lại tới
    Quân Hồ kéo đến đầy trước ải cát
    Sứ nhà Hán từ Ngọc Môn quan trở về
    Lính chinh chiến chưa biết ngày nào mới trở về
    Chỉ thương cho cỏ huệ úa tàn

    Bản dịch: Ý Thu

    Yên Chi đất phủ lá vàng rơi
    Đài cao thiếp vọng phía chân trời
    Thanh Hải biển mây chia từng đoạn
    Thiền Vu thu đến chẳng sao vời
    Hồ quân vây kín trời biên ải
    Ngọc Môn sứ Hán cũng rã rời
    Hẹn khách ra đi giờ không thấy
    Loan phòng cỏ huệ úa tàn rơi...

    Lạc Mỹ Xuyên Thu
     
  20. Lạc

    Lạc Cừu hường huệ Cừu tác giả

    Bài viết:
    91
    Đã được thích:
    513
    Điểm thành tích:
    83
    Bả Tửu Vấn Nguyệt
    Tác giả: Lý Bạch
    ***

    把酒問月

    青天有月來幾時,
    我今停杯一問之。
    人攀明月不可得,
    月行卻與人相隨。
    皎如飛鏡臨丹闕,
    綠煙滅盡清輝發。
    但見宵從海上來,
    寧知曉向雲間沒。
    白兔搗藥秋復春,
    嫦娥孤棲與誰鄰。
    今人不見古時月,
    今月曾經照古人。
    古人今人若流水,
    共看明月皆如此。
    唯願當歌對酒時,
    月光常照金樽裡。

    Bả tửu vấn nguyệt

    Thanh thiên hữu nguyệt lai kỷ thì,
    Ngã kim đình bôi nhất vấn chi!
    Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc,
    Nguyệt hành khước dữ nhân tương tuỳ.
    Kiểu như phi kính lâm đan khuyết,
    Lục yên diệt tận thanh huy phát
    Đãn kiến tiêu tòng hải thượng lai,
    Ninh tri hiểu hướng vân gian một.
    Bạch thố đảo dược thu phục xuân,
    Thường nga cô thê dữ thuỳ lân.
    Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt,
    Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân.
    Cổ nhân kim nhân nhược lưu thuỷ,
    Cộng khan minh nguyệt giai như thử.
    Duy nguyện đương ca đối tửu thì,
    Nguyệt quang thường chiếu kim tôn lý.

    Dịch nghĩa

    Trời xanh có vầng trăng đã bao lâu rồi?
    Nay ta ngừng chén hỏi trăng đây!
    Người thường không thể vin với được vầng trăng sáng,
    Trăng đi đâu thì vẫn cứ theo người.
    Ánh sáng trắng như gương vút tận cửa son,
    Khói biếc tan đi hết, để lộ vẻ trong trẻo lan tỏa ra.
    Chỉ thấy ban đêm trăng từ biển tới,
    Nào hay sớm lại tan biến giữa trời mây.
    Thỏ trắng giã thuốc mãi thu rồi lại xuân,
    Thường Nga lẻ loi cùng ai bầu bạn?
    Người ngày nay không thấy bóng trăng xưa.
    Trăng nay thì đã từng soi người xưa.
    Người xưa nay tựa như giòng nước chảy,
    Cùng ngắm vầng trăng sáng như vậy đó.
    Chỉ mong trong lúc ca say trước cuộc rượu,
    Ánh trăng cứ mãi sáng soi vào chén vàng.
    Bản dịch:
    Nâng Chén Rượu Hỏi Trăng


    Trời xanh trăng có tự bao giờ
    Nay ta dừng chén hỏi trăng thơ
    Ai nào vin nổi trăng vầng sáng
    Ta đi trăng cũng bước theo người.

    Sáng tựa như gương soi lầu các
    Khói mờ lung tỏa bóng trăng sang
    Trời đêm chỉ thấy trăng từ biển
    Sớm tỏ tan trong dấu mây ngàn.

    Thỏ tuyền giã thuốc mãi xuân thu
    Hằng Nga lẻ bóng, ai cùng ngụ?
    Người nay chẳng thấy trăng ngày cũ
    Trăng hoài vẫn đợi bóng người lưu.

    Người vốn xưa nay hòa dòng chảy
    Trăng trong cũng thưởng hết phen này
    Mong rằng cơn say chưa tàn cuộc
    Trăng vàng chén tửu đến ngày nay...

    Lạc Mỹ Xuyên Thu​
     

Chia sẻ trang này